Rated 4.3/5 based on 9 votes

Hoàng Hoa Thám (1858-1913) - Khởi Nghĩa Yên Thế (1884-1913)



Hoàng Hoa Thám (1858-1913)


Hoàng Hoa Thám (1858 – 1913), còn gọi là Đề Dương, Đề Thám hay Hùm thiêng Yên Thế, là người lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế chống Pháp (1885–1913). Hoàng Hoa Thám hồi còn bé tên là Trương Văn Thám, quê làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên, sau đó di cư lên Sơn Tây (Hà Tây), rồi đến Yên Thế (Bắc Giang), bố là Trương Văn Thận và mẹ là Lương Thị Minh.



Hoàng Hoa Thám (1858-1913)




Hoàng Hoa Thám (1858-1913)



Hoàng Hoa Thám và con gái Thi The chụp ảnh với Alfred Bouchet (9/1908).




Đề Thám trong bộ tây phục.



Đề Thám bên các cháu của mình. Hình chụp trong khoảng thời gian ông cùng gia đình và các nghĩa quân của mình định cư tại Phồn Xương, tức là thời gian hòa hoãn lần thứ hai với Pháp, dài gần 11 năm (từ 1897 đến 1908).





Khởi Nghĩa Yên Thế (1884-1913)


Cuộc khởi nghĩa của Ðề Thám là một trong những cuộc khởi nghĩa vũ trang lớn nhất trong lịch sử đấu tranh chống Pháp của dân tộc Việt Nam và cũng là một trong những cuộc khởi nghĩa cuộc khởi nghĩa duy nhất mà người Pháp đã lưu lại trên bưu thiệp.

Sau hoà ước Quí mùi (1883) chấp nhận sự bảo hộ của Pháp ở Bắc kỳ, Vua kêu gọi dân chúng nổi lên chống Pháp. Ðề Ðốc Trương Văn Thám đã hưởng ứng phong trào này và nổi dậy chống Pháp chiếm giữ các vùng Bắc Giang, Thái Nguyên và Hưng Hóa. Dân chúng gọi ông là Ðề Thám.

Pháp đem quân đánh mãi mà không được nên năm 1894, Pháp phải xử hoà với ông, cho ông cai quản 22 xã trong vùng Yên Thế, Ðề Thám lập căn cứ ở Chợ Gò. Dân chúng gọi ông là “Hùm thiêng Yên Thế”. Nhưng hai năm sau thì Ðề Thám lại nổi lên đánh Pháp, tới năm 1898 thì Pháp lại xin ký hoà ước nhường cho ông thêm nhiều quyền lợi nữa. Ðề Thám sống yên cho tới năm 1905 thì lại nổi dậy đánh Pháp một lần nữa (những tấm hình ông chụp với gia đình là trong khoảng thời gian này).
Năm 1908, Ðề Thám quyết định đánh một cú lớn để chiếm thành Hà Nội nên đã âm mưu với những người đầu bếp để bỏ thuốc độc (bột datura) cho 200 lính Pháp giữ thành ăn, nhưng vì liều thuốc hơi yếu nên lính Pháp chỉ bị lảo đảo chứ không chết, cuộc âm mưu bất thành.

Ðầu năm 1909, quân đội Pháp quyết định mở chiến dịch lớn để tấn công Ðề Thám trong tận sào huyệt, Ðề Thám thua nên bỏ trốn vào rừng. Pháp ra giải thưởng 25.000 đồng cho ai bắt hay giết được Ðề Thám. Có ba tay lãng tử người Tàu vì ham tiền nên tìm đến Ðề Thám để xin gia nhập rồi thừa lúc ban đêm ông ngủ mà xúm đến chặt đầu ông đem về lãnh thưởng ngày 10 tháng 2 năm Quí sửu (18/3/1913), chấm dứt một cuộc kháng chiến kéo dài trên một phần tư thế kỷ.



"Yên Thế - Loạn quân nhóm Đề Thám."Bức ảnh này trung úy Romain Desfossés chụp người đồng hương của mình bên cạnh Đề Thám và các chiến hữu của ông. Mối quan hệ giữa Đề Thám và người Pháp lúc này có vẻ hữu hảo. Cậu bé trai, con Cả Huỳnh (đứng trước viên sĩ quan Pháp) còn được kê ghế đứng để không bị khuất giữa đám cha chú. Tất nhiên, khi quan hệ thù tạc trở thành thù địch, chân dung từng người được nghiên cứu, ghi nhận rất kĩ lưỡng nhằm mục đích tiêu diệt. Ở một khía cạnh khác, ta hiểu thêm ngoài những bức ảnh do chính mình chụp, Pierre Dieulefils đã sử dụng các nguồn ảnh khác nhau để phát hành thành bưu ảnh.





"Yên Thế - Loạn quân nhóm Đề Thám." Việc chụp bức ảnh này được chuẩn bị kĩ lưỡng: mọi người xếp thành ba hàng cao thấp trước tấm phông hắt sáng được căng bằng những cành tre. Ta gặp lại một loạt các gương mặt anh tài đã xuất hiện ở bức 3302: Hữu, Tứ con trai Lý Thu, Sồi, Tính... Nhờ bức ảnh này ta biết mặt hai thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Yên Thế: Cả Rinh và Cả Huỳnh - hai người con nuôi của Đề Thám. Sự nổi tiếng của họ đã khiến các hãng bưu ảnh phải crop chân dung họ từ bức ảnh chụp chung để phát hành bưu ảnh riêng, như bố nuôi của mình.



Yên Thế - Loạn quân hàng phục tề tựu ở Nhã Nam trước khi bị bắt, hàng đầu có con gái Đề Thám, Cả Rinh, Cai Sơn. Bức ảnh đại gia đình Đề Thám này chụp vào cuối thời gian đình chiến. Cả Trọng, khi đó 22 tuổi, cùng với hai người con nuôi của Đề Thám là Cả Rinh, Cả Huỳnh, cùng với gia đình 50 người đàn ông khác sinh sống trong nông trại chiến lũy của Đề Thám. Căn cứ vào độ tuổi trong ảnh của người con gái Đề Thám thì thời gian chụp khoảng năm 1906-1907, khi đó bà Hoàng thị Thế khỏang 6 -7 tuổi. Hơn nữa lời chú thích "trước khi bị bắt" cũng xác nhận thêm về thời điểm chụp bức ảnh này.







Chân dung Cả Rinh và Cả Huỳnh.




Quân Pháp ngạo nghễ trên thành lũy của Đề Thám ở Chợ Gò.



Căn cứ của Đề Thám ở Chợ Gò.





Bức ảnh này của trung uý Romain Desfossés chụp thành Chợ Gò từ bên ngòai và bên trong khi quân Pháp dành thắng lợi.



Bên trong thành lũy.



Cùng với Nhã Nam, địa danh Chợ Gồ cũng đi vào sử sách của phong trào Yên Thế



Lối vào thành lũy của Đề Thám tại Chợ Gồ.






Ngôi chùa lớn của Đề Thám ở Chợ Gồ. Có vẻ như bình yên đang trở lại vùng đất chiến sự diễn ra suốt 26 năm.





Đồn canh và quang cảnh làng Nhã Nam. Giành thắng lợi, người Pháp củng cố hệ thống đồn bốt của mình.




Một đoạn thành đồn Phồn Xương, xã Hữu Xương, huyện Yên Thế, Bắc Giang, di tích của phong trào khởi nghĩa Yên Thế.



Một ngôi chùa nơi nghĩa quân Yên Thế thề trung thành với nghĩa quân.



Trên đường hành quân đến Yên Thế. Nhóm quân của Lecanu dừng chân trên một ngọn đồi ở Cầu Rẽ.



Lính Pháp trú quân trong những túp lều như thế này ở Mỏ Trạng.


Binh lính trung đội 10, nhóm Lecanu đào hào trong đồn Đông Cô.




Đồn Đông Cô xây dựng trên núi. 



Một khu đồn Pháp ở Nhã Nam.



Lính tập ở Nhã Nam năm 1906



Có cả danh tính những người lính tham gia trận đánh này trên bưu ảnh của P. Dieulefils. Hạ sĩ Guilbert, trung đội 10 bị thương trong trận 11 tháng 2 đang rút khỏi đồn Mỏ Trạng. 



Đồn lính Pháp ở vùng Yên Thế.



Đồn bốt, hàng rào bao quanh được dựng bằng cây rừng. Cảnh xây dựng đồn Duong Vuong.



Binh sĩ trung đội 10 (nhóm của Mayer) kiểm tra vũ khí trước trận đánh.




Cảnh đưa xác một thân binh tử trận ngày 11/2/1910 ở Mỏ Trạng.



Một thân binh bị thương được tải đi bằng những chiếc cáng lót rơm. Trong khu thành lũy đã thất thủ của Đề Thám thấp thoáng bóng những chiếc áo sọc. 



Toán lính tập khâm liệm các lính Pháp đồn Casanova và Boubault chết trận ngày 11 tháng Hai.



Trận đánh ở Chợ Gò cũng ác liệt không kém. Cảnh lính Pháp và lính tập đang chăm sóc một thân binh bị thương khi tấn công thành luỹ của Đề Thám.



Lính Pháp đang nấu ăn ở Yên Thế.





Nhóm "Những con cá heo" đóng quân ở Mỏ Trạng.



Lính Pháp ở Yên Thế.



Cảnh tải thương sau trận tấn cồng ngày 11.02.1909.



Ngày 11 tháng Hai năm 1910 diễn ra trận đánh rất ác liệt giữa quân Pháp và nghĩa quân Yên Thế. Trung đội 10 chịu nhiều thương vong.





Khâm Sai Lê-Hoàn (bìa trái), kẻ thù truyền kiếp của Ðề-Thám.



Nhóm thân binh người Mán của Phạm Quế Thăng ở Vũ Nhai.


"Thủ lĩnh người Mán và thân binh chống Đề Thám". Như vậy chữ partisan (thân binh) được dùng để chỉ lính địa phương theo Pháp hoặc những hàng quân Yên Thế, còn chữ pirate (giặc, cướp) để chỉ những nghĩa quân tiếp tục chiến đấu chống Pháp. 



Trên bức bưu thiếp này giới thiệu cụ thể hai nhân vật mà chắc chắn người Việt gọi họ bằng cái tên "bọn chỉ điểm" hay "Việt gian". Bên trái: Viên đồ tể, được lính tráng gọi là bằng cái tên Raoul, bên phải là Lý Nhạ - người dẫn đường cho người Pháp.



Yên Thế ngày đó là một vùng núi đồi cây cối rậm rạp. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm lính Pháp, lính tập và lính dõng. Cảnh hành quân qua rừng, viên sĩ quan Pháp chỉ huy đám lính địa phương kéo xe hậu cần phục vụ chiến dịch.



Thân binh đi tuần quanh khu vực Thế Lộc. Đây thêm một minh hoạ cho nhận định trên. Thân binh được trang bị khá đầy đủ, kể cả quân phục. Trong nhiều bức ảnh chiến sự ta còn gặp lại những bộ áo sọc này. 



"Nhóm người bị bắt gồm bố vợ Đề Thám, một người vợ của Cả Rinh và 8 nghĩa quân". Căn cứ vào trang phục, có thể phân biệt được những người trong ảnh: chỉ huy người Pháp, lính khố đỏ đội nón, lính dõng mặc áo sọc, những người bị bắt mặt mũi hốc hác, mệt mỏi. 





Cả Rinh và nhóm binh lính của mình ra đầu hàng ở Núi Lạng.



Một nghĩa quân già của Đề Thám và Quynh con rể ông ta ra hàng.



"Bố vợ Đề Thám bị bắt ở Kẻ Vôi ..." Ông bị mù cả hai mắt, phải giải về Nhã Nam bằng thúng do hai người khiêng.




"Vợ hai của Cả Rinh - thủ lĩnh phiến quân, bị bắt bởi huyện nguyên vùng Yên Thế". Vậy đây là The Mui (có lẽ chính xác là Thị Mùi), dáng vẻ đau khổ của bà và khung cảnh xung quanh trùng hợp với bức ảnh dưới.



"Chiến dịch truy quét Đề Thám. The Mui, vợ hai của Cả Rinh (con nuôi của Đề Thám). Cũng như bố nuôi, Cả Rinh cũng đa thê. Và các bà đều là những nhan sắc.



"Người phụ nữ có tên Thị Nho, vợ ba của Đề Thám, cùng con gái Thị Thế". Đề Thám có năm vợ. Trong số đó ông quý nhất bà vợ ba, Đặng Thị Nhu (hay Nho), thường gọi là bà Ba Cẩn. Đề Thám hơn bà 18 tuổi. Ông lấy bà khỏang năm 1893 -1894, khi bà chưa đầy đôi mươi. Bà là con dòng dõi nhà nho, tài sắc vẹn toàn và sau này trở thành nhân vật quan trọng, một chỗ dựa vững chắc của Đề Thám. Bà sinh hạ cho ông một gái tên là Hoàng Thị Thế (1900) và một trai Hoàng Vi Phồn (1908).




"Người vợ đầu của Cả Rinh và người vợ thứ tư của Đề Thám, em gái Cả Rinh". Vợ tư của Đề Thám là Thân Thị Quynh. Như vậy, xét về vai vế, Đề Thám vừa là cha nuôi, vừa là em rể Cả Rinh. Chi tiết này người Pháp không bịa ra để bôi nhọ Đề Thám. Mối quan hệ nhằng nhịt kiểu này không phải hiếm trong xã hội xưa.



Những người tham gia vụ "Hà Thành đầu độc" bị giam trong Hoả Lò Hà Nội (tháng 7 - 1908).






Hai tù binh. Người gầy có tên là Chi, cai của toán thợ. Thoát chết và bị bắt ở trong rừng.



Tù binh Yên Thế đang bị bắt.



Việc hỏi cung các nghĩa quân bị bắt nhằm truy đuổi đội quân của Đề Thám đang rút chạy. 



Một nghĩa quân bị bắt làm tù binh ở Chợ Gò bị dẫn giải đi hỏi cung thông qua người phiên dịch.



Tám nghĩa quân Yên Thế bị giết ngày 11/11/1908.





Tù binh Yên Thế chuẩn bị hành hình.



Cảnh tù binh đang bị hành hình.


Thủ cấp của một phiến quân bị bêu để các thân hào nhận dạng.



Ba Biểu - một thủ lĩnh hung dữ của Đề Thám, chết ngày 16 tháng 8 năm 1909



Ba Biểu - một thủ lĩnh của Đề Thám bị bêu sau khi chết để nhận dạng (đội quân ở Phúc Yên 1909)



Ba Biểu - một thủ lĩnh của Đề Thám bị bêu sau khi chết để nhận dạng (đội quân ở Phúc Yên 1909)


Thủ cấp cháu của Đề Thám bị giết ở Phúc Yên, tháng 9 năm 1909



Thủ cấp cháu của Đề Thám bị giết ở Phúc Yên, tháng 9 năm 1909



Viên Cai người An Nam mang số lính 40 - tham gia vụ đầu độc bị chém đầu theo kiểu của nước này ngày 8 tháng 7 năm 1908. 



Viên Đội người bản xứ mang số lính 1585 thuộc đại đội 6 - tham gia vụ đầu độc bị chém đầu theo kiểu An Nam ngày 8 tháng 7 năm 1908.



Viên Đội người bản xứ mang số lính 16 - tham gia vụ đầu độc bị chém đầu theo kiểu An Nam ngày 8 tháng 7 năm 1908.





Thủ cấp các lính bản xứ, tham gia vụ đầu độc bị hành quyết ngày 8 tháng Bẩy năm 1908 theo luật Annam. Các ông đội Bình (Nguyễn Chí Bình), đội Nhân (Đặng Đình Nhân), đội Cốc (Nguyễn Văn Cốc) bị hành quyết ngày 8/7/1908 và bêu đầu ở các cửa ô.



Thủ cấp những nghĩa quân chết trận bị bêu ở đường làng để uy hiếp tinh thần người dân.



Tù binh Ðề Thám trên hải cảng Alger trước khi vào tù ở Guyane



Tù binh Ðề Thám tới hải cảng Alger



Tù binh Yên Thế trong vụ "Hà Thành đầu độc".



Ngày 3 tháng Tám năm 1908 xử tử thêm ba người: Nguyễn Văn Hiên (Bếp Hiên), Cai Ngà, và Bếp Xuân. Địa điểm chém là Vườn Bàng ở gần chợ Bưởi.



Ngày 6 tháng 8 năm 1908. Những kẻ bị kết án bị đưa ra khỏi nhà tù đi đến nơi hành quyết. Ta dễ dàng nhận ra cổng nhà tù Hỏa Lò trong bức ảnh này. 



Đoàn người đi qua đường phố Hà nội để đến bãi hành quyết. Đây là phố Hỏa Lò, bên trái bức ảnh thấy rõ bức tường đá của nhà tù.



Trói tù nhân vào cột.



Nghe tuyên án.



Khai đao.



Đao phủ thứ hai chuân bị quăng thủ cấp lên không trung.



Đao phủ thứ hai chuân bị quăng thủ cấp lên không trung.



Sau giây phút định mệnh - Chờ mang quan tài tới .



Thủ cấp được cho vào quan tài cùng phần thân.



Những xác người được đưa về làng Cầu Giấy



Thủ cấp của họ bị bêu trong rọ tre.


Ảnh Gốc

http://123link.pw/SnzsTQvR



Theme images by Nikada. Powered by Blogger.