Rated 4.3/5 based on 9 votes

Lục quân Đế quốc Nhật Bản

 

Lục quân Đế quốc Nhật Bản


Quân đội Nhật Bản có các tên gọi khác nhau theo thời gian. Thời kỳ trước năm 1945, có hai quân chủng độc lập nhau, dưới sự chỉ huy của Nhật Hoàng: Lục quân Đế quốc Nhật Bản và Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Cả hai quân chủng này bị tan rã sau Chiến tranh Thế giới lần II, và được thay thế bởi Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản vào năm 1954.

Lục quân Đế quốc Nhật Bản là tên gọi lực lượng quân sự của đế quốc Nhật từ năm 1867 đến 1945 dưới quyền chỉ huy của Bộ Tổng Tham mưu Hoàng gia và Bộ Chiến tranh Nhật Bản. Lục quân Đế quốc Nhật Bản bao gồm: Bộ binh, Kỵ binh, Pháo binh, Công binh, Quân Y, Hậu cần.

Lục quân Đế quốc Nhật Bản đã tham gia các cuộc chiến như: Chiến tranh Thanh - Nhật, Chiến tranh Nga - Nhật, Đệ Nhị Thế Chiến...

Vào giữa thế kỷ 19, Nhật Bản không có quân đội quốc gia thống nhất và quân đội được Mạc phủ Tokugawa kiểm soát, đã cai trị Nhật Bản từ năm 1603. Quân đội Mạc phủ, mặc dù là lực lượng lớn, nhưng nó phụ thuộc vào sự hợp tác của quân đội chư hầu.

Việc mở cửa đất nước cho người nước ngoài của Mạc phủ, sau hai thế kỷ ẩn dật,  sau đó đã dẫn đến cuộc Duy Tân Minh Trị và Chiến tranh Boshin năm 1868. Năm 1868, "Quân đội Hoàng gia" được thành lập, nhưng nó chỉ là một sự pha trộn lỏng lẻo của các đội quân, chính phủ đã tạo ra bốn sư đoàn quân sự: Tōkaidō, Tōsandō, San'indō và Hokurikudō.

Thời kỳ 1944-1945, Lục quân Đế quốc Nhật Bản có các quân hàm sau, xếp từ cao xuống thấp:

  • Nguyên soái đại tướng (元帥大将, gensui taisho)
  • Đại tướng (大将, taisho)
  • Trung tướng (中将, chusho)
  • Thiếu tướng (少将, shousho)
  • Đại tá (大佐, taisa)
  • Trung tá (中佐, chusa)
  • Thiếu tá (少佐, shousa)
  • Đại úy (大尉, tai-i)
  • Trung úy(中尉, chu-i)
  • Thiếu úy (少尉, sho-i)
  • Chuẩn úy (准尉, jun-i)
  • Tào trưởng (曹長, sōchō)
  • Quân tào (軍曹, gunsō)
  • Ngũ trưởng (伍長, gochō)
  • Binh trưởng (兵長, heichō)
  • Thượng đẳng binh (上等兵, jōtōhei)
  • Nhất đẳng binh (一等兵, ittōhei)
  • Nhị đẳng binh (二等兵, nitōhei)
Trong suốt quá trình tồn tại của Quân đội Đế quốc Nhật Bản, hàng triệu binh lính Nhật Bản đã bị giết, bị thương hoặc bị liệt vào danh sách mất tích.
  • Nhật xâm lược Đài Loan năm 1874: 543 (12 người chết trong trận chiến và 531 do bệnh tật)
  • Chiến tranh Thanh-Nhật đầu tiên: 1.132 người chết và 3.758 người bị thương
  • Chiến tranh Nga-Nhật: Số lính Nhật Bản chết trong chiến đấu vào khoảng 47.000, và với khoảng 80.000 nếu bao gồm cả chết vì bệnh tật.
  • Đệ Nhất Thế Chiến: 1.455 lính Nhật đã bị giết, chủ yếu là tại trận Tsingtao
  • Đệ Nhị Thế Chiến: Từ 2.120.000 đến 2.190.000 đã chết bao gồm cả những cái chết không chiến đấu (bao gồm 1.760.955 người thiệt mạng trong khi chiến đấu)
Giai đoạn từ năm 1931 từ 1945 ở các mặt trận:
  • Trung Quốc: 435.600 người
  • Chiến đấu với Hoa Kỳ: 659.650 người
  • Chiến dịch Miến Điện: 163.000 người
  • Úc: 199.511 người
  • Đông Dương: 7.900 người
  • Liên Xô / Mãn Châu Quốc: 45.900 người
  • Mất tích: 810.000 trong khi chiến đấu và được cho là đã chết
  • Tù nhân chiến tranh: 7.500 tù nhân
  • Hải quân: 473.800 người
 Xem thêm:



Biểu tượng của Lục quân Đế quốc Nhật Bản (1868-1945).



 Các cấp bậc quân hàm trong Lục quân Đế quốc Nhật Bản.



 Quân hàm và quân phục của Lục quân Đế quốc Nhật Bản trong giai đoạn 1941-1945.



 Bộ Tổng Tham mưu Hoàng gia trong giai đoạn Đệ Nhị Thế Chiến.



Tranh vẽ mô tả sự rút lui của lực lượng Mạc phủ trước Quân đội Hoàng gia trong Chiến tranh Boshin. Lâu đài Yodo được vẽ trong tranh.



 Hoàng tử Aritomo Yamagata, một nguyên soái trong quân đội Hoàng gia Nhật Bản và hai lần là Thủ tướng Nhật Bản. Ông là một trong những kiến trúc sư chính của nền tảng quân sự của Nhật Bản thời kỳ đầu hiện đại.



 Vệ binh Hoàng gia Nhật Bản năm 1872. Lực lượng này được thành lập vào tháng 3 năm 1871, với quy mô 6000 binh lính.



 Hầu tước Nozu Michitsura, một nguyên soái trong quân đội Hoàng gia Nhật Bản thời kỳ đầu. Ông được bổ nhiệm làm Tham mưu trưởng của Lữ đoàn Vệ binh Hoàng gia vào năm 1874.



 Những người lính của quân đội Nhật lên tàu tại Yokohama trong Chiến tranh Tây Nam (Cuộc nổi loạn Satsuma) năm 1877.



 Quân đội Nhật Bản trong Chiến tranh Thanh-Nhật.



 Quân đội Nhật Bản đánh chiếm Seoul trong Chiến tranh Thanh - Nhật.



 Binh lính Nhật Bản chiến đấu trong trận Bình Nhưỡng năm 1894.



 Tổng tư lệnh Saigo và các nhân viên của ông trong cuộc xâm lược Đài Loan năm 1874.



 Nogi Maresuke, một vị tướng trong Quân đội Đế quốc Nhật Bản và là thống đốc thứ ba của Đài Loan.



Tranh vẽ quân đội Nhật Bản trong Bát Quốc Liên Quân năm 1900.



 Những người lính của quân đội Đế quốc Nhật Bản năm 1900.



 Tranh vẽ binh sĩ Nhật Bản chiến đấu trong Chiến tranh Nga - Nhật năm 1904-1905.



 Ōshima Ken'ichi, Bộ trưởng Chiến tranh năm 1918.



 Những người lính Nhật ăn mừng sau khi chiếm được cầu Lư Câu và thành Uyển Bình trong chiến tranh Trung - Nhật.



Binh lính diễu hành trước Nhật hoàng Hirohito.



 Các học viên của Quân đội Hoàng gia Nhật Bản trong quá trình huấn luyện với Pháo Type 91 tại sân tập Fuji năm 1935.



 Quân khuyển Nhật Bản trong giai đoạn Đệ Nhị Thế Chiến.
 Lính Nhật đi qua cổng Trung Sơn khi tiến vào Nam Kinh, Trung Quốc năm 1937.



 Binh lính Nhật đang thảm sát người dân Trung Quốc trong Thảm sát Nam Kinh năm 1937.


 Binh sĩ Nhật đầu hàng quân Đồng minh tại Iwo Jima năm 1945.



Đại diện của Đế quốc Nhật Bản  trên tàu USS Missouri trước khi ký văn kiện đầu hàng, ngày 2 tháng 9 năm 1945. Đánh dấu sự tan rã của Quân đội Đế quốc Nhật Bản và được thay thế bởi Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản vào năm 1954.


Bộ Binh

Binh lính Nhật Bản trong Chiến tranh Nga-Nhật năm 1904-1905.


 Lính Bộ binh Nhật Bản trong Đệ Nhị Thế Chiến.
Xe tăng Type 97 Chi-Ha, xe tăng hạng trung được sản xuất rộng rãi trong Đệ Nhị Thế Chiến.



Pháo binh 


 Đơn vị pháo binh Nhật Bản, tại kho vũ khí Koishikawa, Tokyo, vào năm 1882. 




 Pháo binh Nhật Bản đang sử dụng Sơn pháo Type 41 năm 1908.



Kỵ binh


 Kỵ binh quân đội Nhật Bản tại Nomanhan (Khalkhin Gol), tháng 5 năm 1939 trong cuộc xung đột biên giới Xô - Nhật.



Kỵ binh Nhật Bản đang kéo Sơn pháo Type 41 tại Mãn Châu Quốc.


Công Binh

Công binh Nhật Bản đang di chuyển ở phía tây nam Shansi năm 1937.



 Công binh Nhật Bản đang điều khiển Máy kéo Type 98.

 
Quân Y


 Bác sĩ Murouka và Trung sĩ Fukuda của thuộc quân Y. 



No comments

Theme images by Nikada. Powered by Blogger.