Những quốc gia nào đã tham gia vào Chiến Tranh Việt Nam?


Những quốc gia nào đã tham gia vào 

Chiến Tranh Việt Nam? 


Chiến tranh Việt Nam bề ngoài là cuộc nội chiến giữa cộng sản miền Bắc (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) và miền Nam thân phương Tây. Tuy nhiên, người Việt Nam đã không chiến đấu tất cả. Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác đã can thiệp, hỗ trợ cả hai bên - đặc biệt là Nam Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa) - bằng quân đội, vũ khí và vật tư và đã biến những thứ bắt đầu từ một cuộc nổi dậy du kích nhỏ, đã thành một cuộc xung đột lớn thời Chiến tranh Lạnh.

Dưới đây là danh sách các quốc gia đóng vai trò trong Chiến tranh Việt Nam và thông tin chi tiết về động cơ thúc đẩy họ tham gia.


1.Pháp

Pháp từng là nước chiếm đóng Việt Nam lâu dài trước năm 1954 và không muốn tham gia tiếp vào cuộc xung đột mới.

 

Một lính Việt Minh đang bị binh lính Pháp bắt giữ trong Chiến tranh Đông Dương.

 

Sau Thế chiến thứ hai, Pháp tái chiếm Việt Nam như một phần trong nỗ lực giành lại đế chế trước chiến tranh của mình. “Người Pháp đã kiểm soát Việt Nam trong một vài thế hệ,” Ed Moise, giáo sư lịch sử tại Đại học Clemson và tác giả cuốn Vịnh Bắc Bộ và Sự leo thang của Chiến tranh Việt Nam (Tonkin Gulf and the Escalation of the Vietnam War)giải thích. “Họ quyết tâm tiếp tục nắm giữ nó, cả vì niềm tự hào dân tộc và bởi vì nếu họ để một thuộc địa mất đi, thì những người khác có thể có được nó.”

 

Những quả bom sẵn sàng được đưa lên máy bay Pháp trong trận Điện Biên Phủ trong Chiến tranh Đông Dương, ngày 10 tháng 4 năm 1954.


Tuy nhiên, hầu hết người Việt Nam đều phản đối chế độ thực dân, và một cuộc nổi dậy đã nổ ra do lãnh tụ Cộng sản và ủng hộ độc lập do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Năm 1954, lực lượng Việt Minh của Hồ Chí Minh đã giành được chiến thắng quyết định tại Điện Biên Phủ và thành công trong việc đánh đuổi quân Pháp và mãi mãi.

Khi Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, hay Chiến tranh Việt Nam, như được biết đến ở Hoa Kỳ, bắt đầu ngay sau đó, Pháp đã tránh xa. Trên thực tế, Tổng thống Pháp Charles de Gaulle đã cảnh báo người đồng cấp Hoa Kỳ, John F. Kennedy Jr., rằng Việt Nam sẽ là một “đầm lầy chính trị và quân sự không đáy”. Mặc dù đã biết trước, nhưng lời khuyên cuối cùng vẫn không được lắng nghe.

 

2.Hoa Kỳ

Hoa Kỳ can dự để ngăn Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản. Lúc đầu, Hoa Kỳ hoạt động đằng sau, nhưng sau năm 1964, gửi quân tham chiến và sa lầy sâu hơn vào cuộc chiến.

Sau thất bại của Pháp trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, hiệp định Geneva đã chia đôi Việt Nam. Hồ Chí Minh lãnh đạo miền Bắc, trong khi Ngô Đình Diệm do Mỹ hậu thuẫn lãnh đạo miền Nam. Các cuộc bầu cử đã được lên kế hoạch để thống nhất đất nước trong vòng hai năm, nhưng Diệm, với sự chấp thuận của Hoa Kỳ, không bao giờ chấp nhận một cuộc bỏ phiếu mà ông ta sợ sẽ thua. Thay vào đó, một cuộc nổi dậy của Cộng sản đã nổ ra, cái được gọi là Việt Cộng (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam) , những người được Bắc Việt bảo trợ, chống lại lực lượng của Ngô Đình Diệm.

 

Các thành viên của Lực lượng viễn chinh Thủy quân lục chiến số 9 của Hoa Kỳ lên bờ tại Đà Nẵng, miền Nam Việt Nam, vào ngày 8 tháng 3 năm 1965.


Quyết tâm ngăn chặn miền Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng sản, Hoa Kỳ viện trợ cho Ngô Đình Diệm hàng tỷ đô la viện trợ, cũng như tăng thêm số lượng cố vấn quân sự. Hồ sơ của Lầu Năm Góc sau đó đã tiết lộ, “chế độ Ngô Đình Diệm, và một miền Nam Việt Nam độc lập gần như chắc chắn, không thể tồn tại” nếu không có sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.

Các quan chức Hoa Kỳ cuối cùng đã chán ghét ông Diệm, ngầm chấp thuận một Cuộc đảo chính năm 1963 dẫn đến cái chết của ông. Tuy nhiên, sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với Nam Việt Nam không bao giờ lung lay, bất kể ai làm ông chủ Nhà Trắng.

Lúc đầu, Hoa Kỳ chủ yếu hoạt động ở hậu trường. Tuy nhiên, vào năm 1964, cái gọi là sự cố Vịnh Bắc Bộ đã khiến Tổng thống Lyndon B.Johnson đưa quân tham chiến và phát động một chiến dịch ném bom lớn, và sự can dự của Hoa Kỳ chỉ sâu sắc hơn kể từ đó.
 
Thi thể của lính dù Mỹ nằm gần sở chỉ huy trong trận An Ninh, ngày 18 tháng 9 năm 1965.


Vào thời điểm lực lượng Mỹ rút quân cuối cùng vào năm 1973, khoảng 2,7 triệu lính Mỹ đã phục vụ tại Việt Nam, hơn 58.000 người đã thiệt mạng và Hoa Kỳ đã chi ra một khoản tiền đáng kinh ngạc ít nhất là 111 tỷ USD (cộng thêm hàng tỷ tỷ chi phí phi quân sự) .

Kinh nghiệm của Pháp và Mỹ ở Việt Nam khác nhau ở nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, như Moise đã chỉ ra, cả hai đều học được một bài học quan trọng: "Sẽ rất nguy hiểm nếu tham gia vào một cuộc chiến khi bên kia quan tâm đến việc giành chiến thắng hơn bạn."

 

3.Trung Quốc


Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã hỗ trợ Hồ Chí Minh trong cuộc chiến với Pháp, và tiếp tục làm như vậy trong cuộc chiến với Hoa Kỳ bằng cách cung cấp vũ khí, chuyên môn và nhân lực.

Bất chấp tình hình kinh tế tồi tệ vào thời điểm đó, Cộng sản Trung Quốc hỗ trợ Hồ ChÍ Minh trong cuộc chiến với người Pháp, và lại làm như vậy trong cuộc chiến với người Mỹ, cung cấp vũ khí, chuyên môn và nhân lực. Tất cả đã nói, Trung Quốc tuyên bố đã chi hơn 20 tỷ đô la để hỗ trợ Bắc Việt Nam và triển khai 320.000 nhân viên quân sự, hơn 4.000 trong số đó đã chết.

 

Áp phích có tựa đề "Ủng hộ nhân dân Việt Nam," vào khoảng năm 1969, thể hiện sự ủng hộ của Trung Quốc đối với chính nghĩa Cộng sản ở Việt Nam.

 

Phần lớn, người Trung Quốc ở hậu phương, xây dựng lại các khu vực bị phá hủy bởi Hoa Kỳ ném bom và biên chế các khẩu đội phòng không. Nhưng có lẽ vai trò lớn nhất của họ là đánh phủ đầu: Họ nói rõ rằng nếu binh lính mặt đất của Mỹ xâm lược miền Bắc Việt Nam, thì họ sẽ đáp trả một cách tử tế.

Không giống như trong Chiến tranh Triều Tiên, Hoa Kỳ đã nhượng bộ trước mối đe dọa này. “Chức năng của chúng giống như một chiếc kiềng ba chân,” Moise nói, “một lời cảnh báo cho người Mỹ:“ Đừng đi quá xa… nếu không bạn sẽ chống lại chúng tôi ”.

Moise giải thích rằng Trung Quốc và Liên Xô không phải làm nhiều như người Mỹ vì họ đang thúc đẩy bên mạnh hơn. Tuy nhiên, “nếu không có sự hỗ trợ của Trung Quốc hoặc Liên Xô, thì Bắc Việt Nam đã không thể chiến thắng,” ông nói và chỉ ra rằng ngân sách quân sự của Hoa Kỳ lớn hơn gần 30 lần so với toàn bộ tổng sản phẩm quốc dân của miền Bắc Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).

 

4.Liên Xô


Với tư cách là nhà nước Cộng sản đầu tiên, Liên Xô đã hỗ trợ Bắc Việt Nam, với sự hỗ trợ ngày càng tăng vào cuối những năm 1960. Liên Xô cung cấp một số quân nhân, nhưng đóng góp lớn nhất của họ là vũ khí.

Một bảng tuyên truyền thời Chiến tranh Lạnh ở Moscow cho thấy những quả bom dội xuống chú Sam với dòng chữ: 'Những kẻ bạo lực hãy biến khỏi Việt Nam!' vào năm 1968.

 

Mặc dù ban đầu họ ít quan tâm đến Chiến tranh Việt Nam, Liên Xô đã bí mật tăng cường viện trợ cho miền Bắc Việt Nam sau khi Nikita Khrushchev mất quyền lực. Sự tham gia của Liên Xô vào cuộc chiến gia tăng vào cuối những năm 1960, cũng như ảnh hưởng của Trung Quốc đang giảm bớt. (Hai quốc gia đang trải qua sự chia rẽ vào thời điểm đó.)

Mig-17 do Liên Xô sản xuất được viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa.

 

Trong số các loại vũ khí khác, Liên Xô cung cấp tên lửa đất đối không mà Trung Quốc chưa có khả năng sản xuất về mặt công nghệ. Liên Xô thậm chí còn bị cáo buộc đã bắn hạ một số máy bay của Mỹ. Tuy nhiên, nhìn chung, họ chỉ đưa khoảng 3.000 quân vào cuộc xung đột, ít hơn nhiều so với người Trung Quốc.


5.Lào


Lào ban đầu là trung lập trong cuộc xung đột, nhưng Bắc Việt đã chuyển quân qua đất nước và hỗ trợ một cuộc nổi dậy của cộng sản. Cuộc nổi dậy đó đã khiến Hoa Kỳ ném bom dữ dội vào đất Lào.

 
Máy bay B52 đang ném bom vào đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào.

Năm 1962, Hoa Kỳ, cả Việt Nam và một số quốc gia khác đã đồng ý tôn trọng tính trung lập và không can thiệp vào công việc của Lào, quốc gia có biên giới với Việt Nam ở phía tây. Tuy nhiên, Bắc Việt Nam ngay lập tức phá vỡ hiệp định, chuyển quân và tiếp tế qua Lào thay vì đi qua khu phi quân sự được bảo vệ nghiêm ngặt ngăn cách nó với Nam Việt Nam.

 

"Đội quân bí mật" của Thiếu tướng Vang Pao do CIA tài trợ tại Long Cheng, nơi chính phủ Hoa Kỳ và Lào cho phép các phóng viên nhìn thoáng qua căn cứ này vào năm 1972. Một máy bay huấn luyện T-28 đã được cải hoán được nhìn thấy gần quả bom 250 pound được sử dụng do các phi công người Mèo của Vàng Pao chống lại Bắc Việt ở Bắc Lào.
 

Bắc Việt cũng đã hậu thuẫn một cuộc nổi dậy của Cộng sản chống lại chính phủ hoàng gia của Hoàng thân Souvanna Phouma, khiến những người Cộng sản Lào địa phương trở thành, như Moise mô tả là “đối tác cấp dưới”.

Để đối phó với những hành động ngang ngược này của Bắc Việt, người Mỹ đã ngấm ngầm dội hàng tỷ pound bom xuống đất nước Lào. Chiến dịch kéo dài 9 năm khốc liệt đến mức trung bình cứ 8 phút lại có một máy bay ném xuống, khiến Lào trở thành quốc gia bị ném bom nặng nề nhất trên trái đất. Bom, đạn chưa nổ từ thời Chiến tranh Việt Nam vẫn tiếp tục giết người Lào (và cả người Việt Nam và Campuchia) cho đến ngày nay.

Trong khi đó, Tổng thống Richard Nixon đã cho phép một cuộc xâm lược xuyên biên giới vào Lào vào năm 1971. Tuy nhiên, dù họ có cố gắng gì đi nữa, người Mỹ vẫn chưa bao giờ thành công trong việc phá vỡ nghiêm trọng các đường tiếp tế của Bắc Việt Nam, cũng như không ngăn chặn được sự sụp đổ của Lào vào tay Cộng sản vào năm 1975.

 

 

6.Campuchia

Campuchia trong khi chính thức trung lập, đã dung thứ cho các cuộc xâm nhập của Cộng sản. Campuchia đã bị Hoa Kỳ ném bom vì những cuộc xâm nhập đó.

Không ngạc nhiên khi Bắc Việt cũng chuyển quân và tiếp tế qua nước láng giềng Campuchia, dù chính thức trung lập, nhưng đã dung túng cho các cuộc xâm nhập của Cộng sản.


Bản đồ thể hiện đường mòn Hồ Chí Minh đi qua Lào và Campuchia.

Hoàng tử Norodom Sihanouk “về cơ bản cảm thấy rằng mình đang bị bao quanh bởi những kẻ thù nguy hiểm, và anh ấy phải đối xử tốt với một số kẻ thù trong số đó,” Moise nói và nói thêm rằng “anh ấy không thể đủ khả năng để xúc phạm” người Bắc Việt Nam mặc dù “chính trị Campuchia đang chống Cộng Sản."


Hoa Kỳ đáp trả bằng một chiến dịch ném bom bí mật mà Nixon thực hiện quyết liệt vào năm 1969. Nixon sau đó đưa quân qua biên giới vào năm 1970, lợi dụng cuộc đảo chính lật đổ Sihanouk để ủng hộ một tướng Lon Nol thân Hoa Kỳ.


Binh sĩ Khmer Đỏ trong thời gian chiến đấu chống lại Chính phủ Campuchia


Những quả bom của Mỹ đã giết chết hàng chục nghìn người Campuchia, điều mà một số nhà sử học cho rằng có thể đã làm tăng sự ủng hộ của người dân đối với Khmer Đỏ, một nhóm nổi dậy Cộng sản đã khởi xướng một cuộc diệt chủng tàn bạo khi nắm quyền vào năm 1975.

Mặc dù những người Cộng sản Việt Nam đã liên minh với Khmer Đỏ trong Chiến tranh Việt Nam, nhưng cuối cùng họ đã lật đổ chế độ này vào năm 1979. (sau khi Khmer Đỏ đánh vào biên giới Tây Nam Việt Nam).

 

 

7.Hàn Quốc và các đồng minh khác của Hoa Kỳ

 
Hàn Quốc là đối tác chính của Hoa Kỳ và Việt Nam, đóng góp hơn 300.000 quân cho cuộc chiến.

Không muốn bị coi là đi một mình, chính quyền Johnson đã gây áp lực buộc các nước khác tham gia vào Chiến tranh Việt Nam, giống như George W. Bush sau này sẽ thành lập một “liên minh sẵn sàng chiến đấu” trong Chiến tranh Iraq.

 

Binh lính Hàn Quốc tại Việt Nam tiến công trong một cuộc tấn công vào một vị trí của đối phương gần Nha Trang, năm 1972.


Hàn Quốc là đối tác chính của Hoa Kỳ và Việt Nam, cung cấp hơn 300.000 quân và khoảng 5.000 người thiệt mạng. Moise nói: “Người Triều Tiên đã gửi nhiều binh lính hơn và quân hung hãn hơn nhiều [so với các đồng minh khác của Hoa Kỳ].

Ông giải thích rằng họ được thúc đẩy một phần bởi ý thức nghĩa vụ và sự đồng cảm về ý thức hệ: Sau cùng, họ không thể không nhận thấy những điểm tương đồng lịch sử giữa họ và miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, họ cũng được Hoa Kỳ đền đáp dưới hình thức hỗ trợ kinh tế và quân sự.

Viện trợ tài chính, cùng với mong muốn có được sự ưu ái với Hoa Kỳ, cũng đã thu hút thêm các quốc gia khác. Moise nói, vì vậy, cũng có một nỗi sợ hãi chính đáng đối với Chủ nghĩa Cộng sản.

Cuối cùng, gần 60.000 lính Úc phục vụ (521 người chết), khoảng 40.000 người Thái phục vụ (321 người chết) và hơn 3.000 người New Zealand phục vụ (37 người chết).
Philippines, Đài Loan và Tây Ban Nha cũng hỗ trợ nỗ lực chiến tranh của Hoa Kỳ.

 

Binh sĩ Úc trong trận Long Tân năm 1966.

 

 

 Binh sĩ New Zealand thuộc Đại đội Victor 4, trong thời gian tham gia Chiến tranh Việt Nam.

 



Binh sĩ Thái Lan trong Chiến tranh Việt Nam.





Các thành viên của Nhóm Hành động Công dân Philippines (PHILCAG) đến Tây Ninh, miền Nam Việt Nam, năm 1966.




8.Việt Nam

 

Dưới làn đạn bắn tỉa, một phụ nữ bế một đứa trẻ đến nơi an toàn khi lính thủy đánh bộ Mỹ ập vào làng Mỹ Sơn, gần Đà Nẵng, truy lùng Việt Cộng, ngày 25 tháng 4 năm 1965.


Chiến tranh Việt Nam được mô tả là một cuộc nội chiến ở miền Nam Việt Nam, mặc dù nó đã trở thành một cuộc chiến ủy nhiệm giữa các cường quốc trong Chiến tranh Lạnh. Kết quả là người Việt Nam chịu thương vong cao nhất trong cuộc xung đột.


Binh lính Việt Cộng chết sau cuộc tấn công vào Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhứt, năm 1968.
 

Chiến thuật tàn bạo là tiêu chuẩn trong Chiến tranh Việt Nam, và không ai phải chịu đựng nhiều hơn chính người Việt Nam, cả ở miền Bắc và miền Nam. Đến năm 1975, khi quân đội Bắc Việt tiến vào Sài Gòn và thống nhất đất nước dưới Chế độ Cộng sản, ước tính có khoảng 1 triệu đến 3 triệu người Việt Nam đã thiệt mạng trong cuộc chiến, trong đó có nhiều thường dân.

 

Nguồn: HISTORY.COM

No comments

Theme images by rion819. Powered by Blogger.