Các vị tướng triều đại nhà Thanh



Các vị tướng triều đại nhà Thanh

Nhà Thanh là một triều đại Trung Quốc của người Mãn do dòng họ Ái Tân Giác La ở Mãn Châu (giáp với phía nam là Triều Tiên), khởi đầu bằng sự trỗi dậy của tộc người Nữ Chân (đứng đầu bởi Nỗ Nhĩ Cáp Xích) xây dựng với quốc hiệu Đại Kim. Nhà Thanh là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc (bao gồm đảo Đài Loan) và Mông Cổ, tồn tại cho đến khi Cách mạng Tân Hợi năm 1911 nổ ra, chấm dứt chế độ phong kiến ở Trung Quốc.

Dưới đây là danh sách các tướng lĩnh phục vụ trong suốt triều đại nhà Thanh.
 
*Danh sách được sắp xếp theo năm sinh.
*Vì đa số tư liệu được dịch từ tiếng Anh, nên các danh từ và chức phẩm có thể không đúng theo nghĩa Hán-Việt, mong đọc giả thông cảm và đóng góp để hoàn thiện bài viết. Xin cảm ơn.




Chử Anh (1580-1618)

Chử Anh, còn được phiên âm là Xuất Yến và xưng là Hồng Ba Thố, là một hoàng tử Mãn Châu và là con trai cả của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Là một chiến binh tài ba, Chử Anh là công cụ trong việc củng cố quyền lực của Nỗ Nhĩ Cáp Xích giữa các gia tộc đối thủ. Ông cũng là nhà quản lý dân sự chính trong các thời kỳ gián đoạn nhà Hậu Kim thành lập. Tuy nhiên, cuối cùng, ông không được lòng cha vì ông ta cố gắng sử dụng quyền lực chống lại các hoàng tử khác, và bị biệt giam. Chử Anh chết trong ngục vào năm 1618.
 
 


 
 
Hồng Thừa Trù (1593-1665)

Hồng Thừa Trù (1593-1665), tự Ngạn Diễn, hiệu Hanh Cửu, người trấn Anh Đô, huyện cấp thị Nam An, địa cấp thị Tuyền Châu, Phúc Kiến, là một đại thần, tướng lãnh cuối đời Minh, đầu đời Thanh, trong lịch sử Trung Quốc.

Sau khi đỗ tiến sĩ trong kỳ thi triều đình vào năm 1616 dưới thời Hoàng đế Vạn Lịch, dần thăng đến Thiểm Tây Bố chánh sứ Tham chính. Thừa Trù liên tiếp giết được nhiều thủ lĩnh nghĩa quân, được gia hàm Thái tử thái bảo, Binh bộ thượng thư, kiêm chức Đốc Hà Nam, Sơn, Thiểm, Xuyên, Hồ quân vụ.

Năm 1642, ông đầu hàng và đào tẩu sang Đế chế Thanh do Mãn Thanh lãnh đạo sau thất bại trong trận Tùng Sơn. Ông trở thành một trong những học giả-chính trị gia người Hán hàng đầu của Đế chế Thanh. Khi còn đương chức, ông đã khuyến khích các nhà cai trị Mãn Thanh tiếp nhận văn hóa Hán và đưa ra lời khuyên cho chính phủ Thanh về cách củng cố quyền kiểm soát của mình đối với các lãnh thổ cũ của nhà Minh đã sụp đổ. 
 



 
 
Cảnh Trọng Minh (1604–1649) 
 
Cảnh Trọng Minh là một nhà lãnh đạo quân sự Trung Quốc sống và phục vụ trong thời kỳ chuyển giao từ nhà Minh (1368–1644) sang nhà Thanh (1644–1912 ),. Cháu trai của ông là Cảnh Tinh Trung là một trong Ba phiên viên trong Loạn Tam phiên đã nổi dậy chống lại sự cai trị của nhà Thanh vào những năm 1670.
 
 


 
 
Cảnh Kế Mậu (?-1671) 
 
Cảnh Kế Mậu là một hoàng tử và nhà lãnh đạo quân sự của Trung Quốc, thừa kế danh hiệu "Trấn Nam Vương" từ cha của ông là Cảnh Trọng Minh, cùng với các vùng đất của ông, và truyền nó lần lượt cho con trai ông là Cảnh Tinh Trung.
 
 
 



Thượng Khả Hỷ (1604-1676)
 
Thượng Khả Hỷ là một vị tướng Trung Quốc thời nhà Minh và nhà Thanh. Gia đình ông đã di cư đến Liêu Đông vào năm 1576. Thượng Khả Hỷi, phục vụ trong quân đội canh gác biên giới phía đông bắc. Thượng Khả Hỷ gia nhập quân đội và bảo vệ biên giới trước cuộc tấn công của tộc Nữ Chân. Với sự suy tàn và sụp đổ của các Hoàng đế nhà Minh, ông đã tìm kiếm vận may tốt hơn để phục vụ nhà Thanh và ông là một trong những vị tướng quyền lực nhất đã đầu hàng nhà Thanh. Ông đã chiến đấu cho nhà Thanh ở miền Nam Trung Quốc và thiết lập quyền lực của mình ở Quảng Đông, nơi ông cai trị lãnh thổ như một lãnh thổ của riêng mình, tích lũy của cải và sở hữu một đội quân được đào tạo.


Năm 1673, Trong Loạn Tam phiên. Thượng Khả Hỷ vẫn trung thành với nhà Thanh và không tham gia vào cuộc nổi loạn. Ông qua đời vào năm 1676 và được kế vị bởi con trai của ông là Thượng Chi Tín, người đã nổi dậy ngay sau đó nhưng đã bị đánh bại bởi lực lượng nhà Thanh vào năm 1677.






Ngao Bái (1610-1669)

Ngao Bái hay Ngạo Bái, Qua Nhĩ Giai thị, là một viên mãnh tướng người Mãn Châu, và là một trong 4 vị Đại thần nhiếp chính dưới thời Thanh Thánh Tổ Khang Hi Hoàng đế của nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Xuất thân dòng dõi công thần, Ngao Bái đi theo Hoàng Thái Cực tứ phương để dẹp yên, mở mang khai quốc, do đó nổi tiếng là một Ba Đồ Lỗ điển hình của văn hóa triều Thanh. Dưới triều Khang Hi, ông là một trong Tứ trụ đại thần quyền cao chức trọng, còn là ["Nguyên lão Tam triều"]. Do quyền lực quá lớn, Ngao Bái thao nắm quyền bính, kết bè kết cánh, vì vậy ở năm thứ 8 triều Khang Hi (1669), Ngao Bái đã bị Khang Hi Hoàng đế ra lệnh bắt giữ và giam vào trong ngục. 
 
 


 
 
Đa Nhĩ Cổn (1610-1650)

Đa Nhĩ Cổn, còn gọi Duệ Trung Thân vương, là một chính trị gia, Hoàng tử và là một Nhiếp Chính vương có ảnh hưởng lớn trong thời kì đầu nhà Thanh.

Từ khi Đại Thanh nhập quan, ông giữ ngôi vị Đại Thanh Hoàng phụ Nhiếp Chính vương, toàn quyền nhiếp chính triều chánh dưới thời Thanh Thế Tổ Thuận Trị Hoàng đế, có được vinh hạnh miễn quỳ lạy khi diện kiến. Bằng tài năng vượt trội của mình, ông đã giúp quân Thanh thuận lợi vào Sơn Hải quan tấn công quân Lý Tự Thành và đánh dẹp các thế lực nhà Nam Minh, đặt nền móng vững chắc cho triều đại nhà Thanh thống nhất Trung Hoa. Vì ảnh hưởng quá lớn, sau khi chết ông thậm chí được truy tặng thụy hiệu Nghĩa Hoàng đế, khiến Thuận Trị Đế phải lạy 3 lạy trước mộ phần.

Đồng thời, Đa Nhĩ Cổn là 1 trong 2 vị Nhiếp Chính vương của triều Thanh, bên cạnh Tái Phong, thân phụ của Tuyên Thống Đế Phổ Nghi
 
 




Ngô Tam Quế (1612-1678)
 
Ngô Tam Quế, là một nhà lãnh đạo quân sự, đóng vai trò trong sự sụp đổ của triều đại nhà Minh và sự thành lập của triều đại nhà Thanh.

Năm 1644, sau khi thủ lĩnh cuộc nổi dậy Lý Tự Thành giết cha mình, tướng nhà Minh là Ngô Tương, Ngô Tam Quế liên minh với Hoàng tử nhà Thanh Đa Nhĩ Côn và cho phép quân Thanh đi qua Sơn Hải quan để trấn áp cuộc nổi loạn của Lý Tự Thành. Vì những nỗ lực của mình trong việc thành lập triều đại nhà Thanh, ông đã được ban cho một thái ấp lớn bao gồm các tỉnh Vân Nam và sau đó là Quý Châu, cũng như danh hiệu cao quý "Bình Tây vương".

Khi mới thành lập, triều Thanh đã phong vương cho một số tướng lĩnh Hán tộc có công, trong số đó có Thượng Khả Hỉ (được phong là Bình Nam vương, trấn thủ Quảng Đông), Cảnh Trọng Minh (được phong là Trấn Nam vương, trấn thủ Phúc Kiến), Ngô Tam Quế (được phong Bình Tây vương, trấn thủ Vân Nam). Ba lãnh địa đó gọi chung là "Tam phiên", và trong ba phiên ấy mạnh nhất là thế lực của Ngô Tam Quế. Sau xét thấy sự tồn tại của những lãnh địa này không có lợi cho nền thống trị của nhà Thanh, năm 1673 vua Khang Hi đã ra lệnh bãi bỏ các phiên.

Năm 1674, thay vì từ chức, Ngô Tam Quế quyết định nổi dậy chống lại nhà Thanh. Năm 1678, Ngô Tam Quế vẫn xưng làm Hoàng đế, lập ra nhà Đại Chu, thủ đô tại Hành Dương, Hồ Nam. Nhưng chỉ được 5 tháng thì chết vào ngày 2 tháng 10 năm 1678, ông thọ 66 tuổi, cháu trai của ông là Ngô Thế Phiên đã kế vị ông. Tuy nhiên, Hoàng đế Khang Hy của nhà Thanh cuối cùng đã dập tắt cuộc nổi dậy.
 
 
 

 
 
Đa Đạc (1614-1649)

Đa Đạc là một trong 12 Thiết mạo tử vương và một tướng lĩnh trong thời kỳ đầu nhà Thanh. Ông có tước hiệu là "Hòa Thạc Dự Thân vương" vì vậy còn được xưng là Dự vương.

Cuối thời kỳ Thiên Mệnh, Nỗ Nhĩ Cáp Xích đã đem hai Hoàng kỳ mà bản thân nắm giữ chia cho ba em của Đa Đạc. A Tế Cách và Đa Nhĩ Cổn chia nhau Chính Hoàng kỳ và bản thân Đa Đạc được chia một nửa Tương Hoàng kỳ dù Kỳ quyền vẫn nắm trong tay của Nỗ Nhĩ Cáp Xích. Đây cũng là thời kỳ duy nhất hai Hoàng kỳ đặc biệt là Tương Hoàng kỳ - Kỳ tịch của Hoàng Đế, không nằm trong sự quản lý trực tiếp của Hoàng Đế hay Đại Hãn. Đến khi Nỗ Nhĩ Cáp Xích qua đời, Đa Đạc theo lẽ mà thừa hưởng toàn bộ Tương Hoàng kỳ. Về sau, khi Hoàng Thái Cực lên ngôi đã lấy hai Bạch kỳ đổi với hai Hoàng kỳ, Đa Đạc chuyển thành nắm giữ Chính Bạch kỳ. Đến khi Đa Nhĩ Cổn nhiếp chính lại thực hiện hai lần đổi kỳ, lần đầu tiên đã đổi hai Bạch kỳ với nhau, Đa Đạc trở thành người nắm giữ Tương Bạch kỳ cùng với A Tế Cách, sau lần thứ hai, Đa Đạc trở thành người duy nhất nắm giữ Chính Lam kỳ và Đa Nhĩ Cổn một mình độc chiếm hai Bạch kỳ. Cũng từ đây là hậu duệ Đa Đạc đều thuộc Chính Lam kỳ. 
 
 




Thi Lang (1621-1696)

Thi Lang tự là Tôn Hầu, hiệu là Trác Công, người thôn Nha Khẩu trấn Long Hồ huyện Tấn Giang tỉnh Phúc Kiến Trung Quốc, là danh tướng thời kỳ cuối Minh đầu Thanh. Ông từng là tướng lĩnh Minh Trịnh, sau về hàng nhà Thanh, được phong Tịnh Hải hầu, thụy Tương Trang, tặng chức Thái tử Thiếu phó. Về sau ra sức giúp nhà Thanh đánh dẹp chính quyền nhà Trịnh, thu hồi lại Đài Loan, chính thức sáp nhập hòn đảo này vào lãnh thổ của Đế quốc Đại Thanh. 
 
 
 



Lý Súy Thái (?-1666)

Lý Súy Thái là một chỉ huy quân sự đầu nhà Thanh. Ông từng là Tổng đốc Lưỡng Quảng từ năm 1653 đến năm 1656, sau đó là Tổng đốc Mân Triết từ năm 1656 đến năm 1658, sau đó ông tiếp tục là Tổng đốc Phúc Kiến cho đến năm 1664.
 
 
 

 
 
Thượng Chi Tín (1636-1680)

Thượng Chi Tín là một nhân vật quan trọng trong đầu triều đại nhà Thanh, được biết đến với vai trò trong Loạn Tam Phiên. Ông là Bình Nam Vương, kế thừa vị trí từ cha mình, tướng quân Thượng Khả Hỷ đầu hàng của nhà Minh.


Năm 1679, Khang Hy tước bỏ phần lớn quyền lực quân sự của Thượng Chi Tín. Năm 1680, khi nhà Thanh giành chiến thắng, Thượng Chi Tín bị bắt, đưa đến Bắc Kinh và ra lệnh tự sát. Đổi lại việc tự sát, gia đình của Thượng Chi Tín được tha chết. Có ba mươi sáu anh em của Thượng Chi Tín , bốn trong số họ đã bị hành quyết trong khi Thượng Chi Tín tự sát, những người còn lại được phép sống.

Chi Tín được biết đến với sự tàn ác của mình. Một số kẻ thù riêng của ông đã bị xé xác bởi những con chó săn vì dám chống lại ông.
 
 
 
 


Cảnh Tinh Trung (1644-1682)

Cảnh Tinh Trung là một chỉ huy quân sự của đầu triều đại nhà Thanh. Ông được thừa kế danh hiệu "Tĩnh Nam vương" từ cha mình là Cảnh Kế Mậu, người đã thừa kế nó từ ông nội của Tinh Trung là Cảnh Trọng Minh.

Cố gắng vững chắc với tư cách là một nhà cai trị gần như độc lập ở Phúc Kiến, vào năm 1674, Huỳnh Tinh Trung đã nổi dậy chống lại sự cai trị của nhà Thanh cùng là Ngô Tam Quế và Thượng Chi Tín, còn gọi là Loạn Tam phiên. Ngay sau chiến thắng cuối cùng của nhà Thanh vào năm 1681, Hoàng đế Khang Hy đã xử tử Cảnh Tinh Trung bằng hình phạt lăng trì vì tội phản quốc.
 
 


 
 
Sách Lăng (1672-1750)

Sách Lăng, Bác Nhĩ Tế Cát Đặc thị, Thai cát của Khách Nhĩ Khách, hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn. Ông là một trong những tướng lĩnh và Ngạch phò của nhà Thanh, cũng là 1 trong 2 người Mông Cổ duy nhất được phối hướng trong Thái miếu. 
 
 
 
 


Niên Canh Nghiêu (1679-1726)
 
Niên Canh Nghiêu, tự Lượng Công, hiệu Song Phong, là một đại thần người Hán thời nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Ông được xem là người có vai trò quan trọng trong suốt hai triều Ung ChínhKhang Hi. Ông xuất thân là một thành viên của Tương Hoàng kỳ và có nhiều kinh nghiệm quân sự ở biên giới phía tây của Đế chế nhà Thanh. Nian trở thành tổng tư lệnh quân Thanh ở phía tây bắc; và giúp hợp nhất khu vực mà ngày nay là Thanh Hải vào nhà Thanh.
 
 
 
 


Dận Trinh (1688-1755)

Doãn Đề, là Hoàng tử thứ 14 tính trong số những người con sống tới tuổi trưởng thành của Thanh Thánh Tổ Khang Hi Đế.

Ông nổi tiếng với việc tranh đoạt ngôi vị Hoàng đế cùng với anh trai ruột là Ung Chính Đế, cuối những năm Khang Hi, thế lực của ông cực lớn, từng nhậm Đại Tướng quân Vương. Sau khi Ung Chính lên ngôi, ông bị đoạt lại binh quyền, lưu lại Đông lăng thủ lăng cho Khang Hi Đế
 





Triệu Huệ (1708-1764)

Triệu Huệ, tự Hòa Phủ, là một đại thần, tướng lĩnh đời Càn Long nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc.




 
 
A Quế (1717-1797)

A Quế tên tự Quảng Đình, hiệu Vân Nhai , ông là tướng lĩnh nhà Thanh dưới thời Càn Long. Ông xuất thân trong gia tộc Chương Giai thị, vốn thuộc Mãn Châu Chính Lam kỳ, sau nhờ có công bình định Hồi bộ đổi thành Chính Bạch kỳ.
 
 
 

 
 
Tôn Sĩ Nghị (1720-1796)

Tôn Sĩ Nghị, tự Trí Dã, một tên tự khác là Bổ Sơn, là một đạt thần của triều đại nhà Thanh, từng là Tổng đốc Lưỡng Quảng dưới thời Hoàng đế Càn Long. Năm 1787, ông chỉ huy việc phòng ngự tại Triều Châu đề phòng quân khởi nghĩa của Lâm Sảng Văn tại Đài Loan tiến vào Quảng Đông. Năm sau, ông chỉ huy quân đội nhà Thanh tiến vào Đại Việt theo yêu cầu của Lê Chiêu Thống nhằm giúp ông này phục hồi nhà Hậu Lê nhưng bị quân đội của Nguyễn Huệ đánh bại trong trận chiến tại Thăng Long dịp tết Kỷ Dậu 1789. Chiến dịch hành quân này của Tôn Sĩ Nghị là một trong mười chiến dịch hành quân lớn (thập toàn võ công) trong đời hoàng đế Càn Long.
 
 




Phó Hằng (1720-1770)

Phó Hằng, còn gọi Phú Hằng, biểu tự Xuân Hòa, Mãn Châu Tương Hoàng kỳ, Phú Sát thị, là một quan viên, chính trị gia, Quân cơ đại thần, Đại học sĩ của triều đại nhà Thanh dưới thời Càn Long Đế.

Ông nổi tiếng là một ngoại thích, do là em trai của Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu. Con trai ông, Phúc Khang An là một sủng thần của Càn Long Đế, không kém cạnh gì Hòa Thân, do đó địa vị của gia đình ông rất vững chắc. Ông còn nổi tiếng vì tham gia cuộc chiến cuối cùng trong Chiến tranh Thanh-Miến. 
 
 




Hải Lan Sát (? - 1793)

Hải Lan Sát là tướng lĩnh nhà Thanh dưới thời của Thanh Cao Tông Càn Long. có công chinh phạt bộ tộc Chuẩn Cát Nhĩ và bình định thế lực Lâm Sảng Văn. Năm 1769, Hải Lan Sát được phong làm Phó Đô thống Mông Cổ Tương Lam kỳ. 2 năm sau tiếp tục đảm nhận chức Phó Đô thống Mông Cổ Tương Bạch kỳ. 
 





Phúc Khang An (1753-1796)

Phúc Khang An, biểu tự Dao Lâm, Mãn Châu Tương hoàng kỳ, Phú Sát thị, là một vị tướng nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc, ông từng làm quan dưới triều Càn Long và Gia Khánh và từng giữ chức Nội vụ phủ Đại thần và Tổng đốc Lưỡng Quảng.

Ông là con của Phó Hằng, anh trai của Hiếu Hiền Thuần hoàng hậu, từng là đại thần trong những năm giữa triều đại của Hoàng đế Càn Long. Phúc Khang An nắm giữ nhiều chức vụ khác nhau trong suốt triều đại của Càn Long
Cuộc nổi dậy của Salar Jahriyya Sufi bị Fuk'anggan cùng với Agui và Li Shiyao Gansu dập tắt vào năm 1784, trong khi Heshen được gọi lại vì thất bại trong cuộc nổi dậy.

Năm 1787, 300.000 người tham gia cuộc nổi dậy Lâm Sảng Văb ở Đài Loan chống lại chính quyền nhà Thanh. Phúc Khang An chỉ huy 20.000 quân và đàn áp cuộc nổi dậy. Năm 1790, quân đội Gurkha (Khuếch Nhĩ Khách) của Nepal xâm lược Tây Tạng và Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 8, Jamphel Gyatso, đã trốn thoát khỏi Lhasa và cầu cứu nhà Thanh. Hoàng đế Càn Long đã bổ nhiệm Phúc Khang An làm tổng chỉ huy chiến dịch Tây Tạng.
 
 




Quan Thiên Bồi (1781-1841)

Quan Thiên Bồi, tự Trọng Nhân, hiệu Tư Phố là một vị tướng nhà Thanh vào thế kỷ thứ XIX trong Lịch sử Trung Quốc. Ông là Đề đốc tỉnh Quảng Đông dưới quyền của Lâm Tắc Từ, là vị tướng chỉ huy quân Thanh ở pháo đài Hạ Môn chống trả quân Anh xâm lược trong cuộc Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất và đã cùng các tướng sĩ tử trận trong cuộc chiến này. Tuy thất trận nhưng ý chí kiên cường, sự hi sinh anh dũng của ông đã nêu cao tinh thần tận trung báo quốc, được sử sách tôn vinh là anh hùng dân tộc của Trung Hoa.




 
 
Lâm Tắc Từ (1785-1850)

Lâm Tắc Từ, là một vị quan nhà Thanh ở thế kỷ XIX trong lịch sử Trung Quốc. Ông là vị quan có chủ trương chống thực dân Anh trong cuộc chiến tranh Nha phiến lần thứ 1 (1840 - 1842) và là người đã thi hành kiên quyết và triệt để lệnh cấm hút thuốc phiện. Ông đã tiêu hủy hơn 20.000 hòm thuốc phiện của các lái buôn thuốc phiện người Anh tại Quảng Đông. Ông cũng là người chỉ huy các lực lượng quân Thanh và nhân dân Trung Hoa kháng cự quyết liệt quân đội Anh trong cuộc Chiến tranh nha phiến lần thứ 1, được coi là anh hùng dân tộc của Trung Hoa. 
 
 
 



Các Vân Phi (1789-1841)
 
Các Vân Phi là một vị tướng Trung Quốc của triều đại nhà Thanh. Ông đã phục vụ trong vài năm với tư cách trợ lý chỉ huy lữ đoàn trong hải quân đóng tại Hoàng Nham. Năm 1839, ông được bổ nhiệm làm chỉ huy đồn Trấn Hải của Chiết Giang. Ông phục vụ trong Chiến tranh Thuốc phiện lần thứ nhất và tử trận khi quân Anh chiếm thành phố Chu San.
 
 


 
 
Lạc Bỉnh Chương (1793-1867)

Lạc Bỉnh Chương là một quan chức, tướng quân người Hán lỗi lạc, và là học giả Nho giáo sùng đạo vào cuối thời nhà Thanh ở Trung Quốc.

Lạc Bỉnh Chương đã nâng cao Lục doanh quân và giúp tạo ra Tương quân để chiến đấu hiệu quả chống lại cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc và khôi phục sự ổn định của nhà Thanh. Ông được biết đến với nhận thức chiến lược, kỹ năng hành chính, nhưng đôi khi vì sự tàn nhẫn trong việc thực thi các chính sách của mình, ông đã bắt giữ Thạch Đạt Khai (Dực vương của Thái Bình Thiên Quốc).
 
 




Tăng Quốc Phiên (1811-1872)

Tăng Quốc Phiên, tên tự là Bá Hàm, hiệu là Điều Sinh, người Tương Hương, tỉnh Hồ Nam, đỗ Tiến sĩ triều Đạo Quang, giữ chức vụ Thị lang các bộ Binh, Lễ, Lại, Hình, đồng thời là một Nho gia lỗi lạc theo phái Đông Thành, nhân vật tiêu biểu của địa chủ người Hán, sau được bổ nhiệm chức Nội các Học sĩ trong Triều đình Mãn Thanh.

Ông là tướng lĩnh chỉ huy Tương quân (đoàn quân khởi phát ở Tương Hương), cánh quân chủ lực trong cuộc chiến chống quân Thái Bình Thiên Quốc
 





Tăng Cách Lâm Thấm (1811-1865)

Tăng Cách Lâm Thấm, quý tộc Mông Cổ, người Khoa Nhĩ Thấm Tả Dực Hậu kỳ, thị tộc Bác Nhĩ Tế Cát Đặc, tướng lĩnh nhà Thanh. Ông đã từng bắt được các tướng lĩnh khét tiếng của Thái Bình Thiên Quốc là Lâm Phượng Tường, Lý Khai Phương; tham gia vệ quốc trong chiến tranh Nha phiến lần thứ hai; bắt được thủ lĩnh tối cao của Niệp quân là Trương Lạc Hành. 
 



 
 
Tả Tông Đường (1812-1885)

Tả Tông Đường, tên tự là Quý Cao, hiệu Tương Thượng Nông nhân, là một nhân vật lịch sử đời nhà Thanh, quan lại và danh tướng kiệt xuất cuối đời nhà Thanh. Ông là người đã có công trấn áp cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, trải qua các chức vụ Tổng đốc Mân-Chiết, Tổng đốc Thiểm – Cam, đã thành lập Phúc Châu thuyền cục với xưởng đóng tàu Mã Vĩ (Phúc Kiến) nổi tiếng là nền tảng của Hải quân Trung Quốc, sau đó đến Thiểm Tây đàn áp cuộc khởi nghĩa của Niệm quân và là người dẫn quân chinh Tây, thu phục Tân Cương về cho Triều đình nhà Thanh, cuối đời làm Tổng đốc Lưỡng Giang và Quân cơ đại thần, đóng vai trò lớn trong việc vận động thành lập Hải quân Nha môn năm 1885. Ông cùng với Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương và Trương Chi Động được xưng là "Vãn Thanh Tứ đại Danh thần.
 
 
 
 


Phùng Tử Tài (1818-1903)

Phùng Tử Tài quê ở Quảng Tây, Trung Quốc, là một vị tướng trong triều đình nhà Thanh vào thế kỷ XIX. Ông là anh hùng dân tộc Trung Hoa với chiến tích đánh thắng quân Pháp tại ải Nam Quan, bảo vệ thành công lãnh thổ tỉnh Quảng Tây khỏi họa ngoại xâm từ thực dân Pháp.

Ông được triều đình bổ nhiệm làm Tuần phủ tỉnh Quảng Tây, sau được thăng làm Tổng đốc tỉnh Quảng Tây. Ông là vị tướng có công đánh dẹp tàn dư của nghĩa quân Thái Bình Thiên Quốc tại đây và là tổng chỉ huy của lực lượng quân Thanh trong những lần đóng quân tại Việt Nam để tiểu trừ các dư đảng của Thái Bình Thiên Quốc và các nhóm phỉ ở biên giới Trung Quốc – Việt Nam. Ông cũng là tư lệnh của quân Thanh trong cuộc chiến tranh Pháp – Thanh tại mặt trận Việt Nam. 
 
 




Tống Khanh (1820–1902)
 

Tống Khanh, tên lịch sự là, là một vị tướng nhà Thanh phục vụ Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất và trong Cuộc nổi dậy của Nghĩa Hòa Đoàn.


Từ năm 1880, Tống Khanh làm việc dưới quyền của Lý Hồng Chương để giám sát việc phòng thủ Mãn Châu chống lại Đế quốc Nga, và từ năm 1882, ông đã đóng quân tại cảng chiến lược Lữ Thuận Khẩu, nơi đóng quân của Hạm đội Bắc Dương. Sau thất bại của quân Thanh trong trận Bình Nhưỡng trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất, Lý Hồng Chương đã bổ nhiệm Tống làm phó chỉ huy và giao cho ông trách nhiệm bảo vệ đoạn sông Áp Lục. Tuy nhiên, việc bổ nhiệm này không được lòng quân đội của ông, những người đánh đồng thái độ thờ ơ của ông với sự hèn nhát, và những người đã đào ngũ với số lượng lớn trước và trong Trận Sông Áp Lục. Sau đó, Tống Khanh đã hỗ trợ Phó vương Lưu Khôn trong trận Dinh Khẩu cũng thảm khốc không kém.
 
 
 
 


Trầm Bảo Trinh (1820–1879)
 
Trầm Bảo Trinh, sinh ra ở Mân Hầu, tỉnh Phúc Kiến, ông đỗ Trạng Nguyên trong kỳ thi của triều đình vào năm 1847 và sớm được bổ nhiệm vào Hàn lâm viện.

Khả năng hành chính tuyệt vời của anh đã thu hút sự chú ý của Tăng Quốc Phiên, người đã chiêu mộ anh trong nỗ lực trấn áp cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc.

Ông chủ yếu được ghi nhớ trong lịch sử châu Âu vì sự phản đối muộn màng của ông đối với tuyến đường sắt của Công ty Đường sắt Ngô Tùng, mà ông đã mua và tháo dỡ trong năm đầu hoạt động, đã hạn chế sự phát triển của Thượng Hải trong 20 năm. Thượng Hải vẫn không được kết nối với mạng lưới đường sắt đang phát triển của Trung Quốc cho đến khi tuyến đường này được tái thiết vào năm 1898 và sau đó kéo dài đến Nam Kinh vào năm 1908.






Lý Hồng Chương (1823-1901)

Lý Hồng Chương, là một đại thần triều đình nhà Thanh trong lịch sử Trung Quốc. Ông là người tỉnh An Huy, xuất thân gia đình quan lại. Trong cuộc đời quan trường của mình ông đã thành lập Hoài quân tham gia cùng với Tăng Quốc Phiên, Tả Tông Đường trấn áp Phong trào Thái Bình Thiên Quốc. Vì có công lao to lớn, ông được bổ nhiệm làm tổng đốc Hồ quảng, tổng đốc Trực Lệ kiêm Bắc dương đại thần, Tổng đốc Lưỡng Quảng, Túc nghị nhất đẳng bá.






Tăng Quốc Thuyên (1824 – 1890)

Tăng Quốc Thuyên, là một vị tướng, quan lại của nhà Thanh trong thời kỳ vua Hàm PhongĐồng Trị. Ông là em trai của Trung đường Tăng Quốc Phiên chủ tướng Tương quân nổi tiếng trong thời kỳ chống quân Thái Bình Thiên Quốc nổi dậy. Chính ông đã chỉ huy Tương quân thủy chiến bắn pháo công phá thành Thiên kinh của Thái Bình Thiên Quốc mang lại chiến thắng cuối cùng cho quân Thanh. 
 
 
 
 


Frederick Townsend Ward (1831-1862) 
 
Frederick Townsend Ward là một thủy thủ và lính đánh thuê người Mỹ nổi tiếng tham gia vào chiến trường Trung Hoa giữa Thái Bình Thiên Quốc và nhà Thanh cùng Anh quốc và Pháp. Ông là người sáng lập và là chỉ huy đầu tiên của Thường Thắng Quân, đóng góp rất lớn cho nhà Thanh trong việc dập tắt phong trào nổi loạn của quân Thái Bình Thiên Quốc. Ông đã tử trận tại trận chiến với quân Thái Bình năm 1862 ở tuổi 31. 
 
 
 



Nhiếp Sĩ Thành (1836-1900)

Nhiếp Sĩ Thành là một tướng lĩnh nhà Thanh, từng tham gia trấn áp Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn (1899-1901). Nổi lên từ nguồn gốc ít người biết đến từ Hợp Phì, tỉnh An Huy, vào đầu những năm 1850, Nie Shicheng đã vượt qua kỳ thi cấp quận cho các chức vụ quan lại, nhưng do cuộc nổi dậy Thái Bình Thiên Quốc, ông buộc phải từ bỏ sự nghiệp quan lại và trở thành một người lính.
 
 




Đinh Nhữ Xương (1836-1895)

Đinh Nhữ Xương ban đầu là một kỵ binh trong lực lượng Hoài quân của Lý Hồng Chương, được Lý Hồng Chương đề cử giữ các chức vụ Đạo đài Thượng hải, Giám đốc Tổng cục chế tạo cơ khí Giang nam, một trong những công xưởng quân sự lớn nhất Trung quốc lúc bấy giờ. Năm 1874 ông được giao trách nhiệm phát triển lực lượng hải quân, thường xuyên đi các nước Anh, Đức để mua tàu thuyền. Năm 1888, ông được bổ nhiệm làm Thủy sư đề đốc chỉ huy Hạm đội Bắc Dương của Đế quốc Thanh trong Hải chiến Hoàng Hải (1894) thời kỳ Chiến tranh Thanh-Nhật.

Ông đã bị thương ngay từ loạt đạn đầu tiên bắn vào tàu của mình, chiếc Định Viễn, cùng với một số sĩ quan có mặt trên đài chỉ huy.

Tháng 2 năm 1895, Hạm đội Bắc Dương dưới sự chỉ huy của Đinh cũng chịu thất bại hoàn toàn. Đinh đã tự vẫn. Cấp phó của ông, đề đốc Lưu, cũng tự vẫn. Tàn quân của Hạm đội Bắc Dương đã đầu hàng quân Nhật. Sau khi ông qua đời, thủy sư đề đốc Đinh Nhữ Xương vẫn bị triều đình đổ lỗi cho thất bại thảm hại và ông chỉ được an táng đúng cách vào năm 1912. 
 
 




Vinh Lộc (1836-1903)
 
Vinh Lộc là một nhà lãnh đạo chính trị và quân sự người Mãn Châu cuối triều đại nhà Thanh. Anh sinh ra trong gia tộc Guwalgiya, thuộc Chính Bạch kỳ trong Bát Kỳ Mãn Châu. Được Từ Hi Thái hậu hết lòng sủng ái, ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ quân sự và dân sự quan trọng trong chính phủ nhà Thanh, bao gồm Tổng lí nha môn, Quân cơ xứ, Binh bộ Thượng thư, Đại học sĩ, Tổng đốc Trực Lệ, Bộ trưởng Thương mại Bắc Dương, Cửu môn Đề đốc,Thống soái Võ Vệ quân. Ông cũng là ông ngoại của Phổ Nghi, Hoàng đế cuối cùng triều đại nhà Thanh.
 
 
 
 


Lưu Minh Truyền (1836-1896)

Lưu Minh Truyền, còn đọc là Lưu Minh Truyện, tên tự là Tỉnh Tam, hiệu là Đại Tiềm Sơn Nhân, người Tây hương, huyện Hợp Phì, tỉnh An Huy, đại thần cuối đời Thanh, tướng lãnh trọng yếu của Hoài quân. Ông tham gia trấn áp khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc, khởi nghĩa Niệp quân, chỉ huy kháng Pháp ở Đài Loan, sau đó trở thành tuần phủ đầu tiên của tỉnh mới Đài Loan, thực hiện một loạt cải cách làm cơ sở cho công cuộc hiện đại hóa của hòn đảo này về sau.





 
 
Lưu Vĩnh Phúc (1837–1917)

Lưu Vĩnh Phúc, tự Uyên Đình, người Khâm Châu, Quảng Đông là một lãnh binh nhà Thanh và là chỉ huy của Đội quân Cờ đen nổi tiếng. Lưu Vĩnh Phúc nổi tiếng là một nhà yêu nước, chiến đấu chống lại Đế quốc Pháp ở miền Bắc Việt Nam (Bắc Kỳ) vào những năm 1870 và đầu những năm 1880. Trong Chiến tranh Trung-Pháp (tháng 8 năm 1884 - tháng 4 năm 1885), ông đã thiết lập một tình bạn thân thiết với chính khách Trung Quốc và tướng quân Đường Cảnh Tùng, và vào năm 1895, ông đã giúp Đường Cảnh Tùng tổ chức kháng chiến chống lại cuộc xâm lược Đài Loan của Nhật Bản. Ông kế nhiệm Đường Cảnh Tùng trở thành tổng thống thứ hai và cuối cùng của Cộng hòa Formosa tổng thống (Đài Loan Dân chủ quốc) tồn tại trong thời gian ngắn (5 tháng 6 đến 21 tháng 10 năm 1895).






Đổng Phúc Tường (1839–1908)

Đổng Phúc Tường, là một vị tướng cuối triều đại nhà Thanh. Anh sinh ra ở tỉnh Cam Túc, miền tây Trung Quốc. Ông chỉ huy một đội quân Hồi giáo, bao gồm các tướng Mã gia quân phiệt sau này là Mã An Lương và Mã Phúc Tường. 
 
 




Đường Cảnh Tùng (1841–1903)

Đường Cảnh Tùng là một viên tướng nhà Thanh. Ông đã chỉ huy quân Vân Nam trong chiến tranh Pháp-Thanh (tháng 8/1884 - tháng 4/1885) và đã đóng góp tích cực vào các nỗ lực quân sự của nhà Thanh tại Bắc Kỳ bằng cách thuyết phục lãnh đạo quân cờ đen là Lưu Vĩnh Phúc hợp tác với quân Thanh. Vai trò lãnh đạo của Đường Cảnh Tùng trong cuộc vây hãm thành Tuyên Quang (tháng 11/1884 - tháng 3/1885) được đánh giá cao tuy rằng rốt cuộc nó thất bại. Sau đó ông làm tổng đốc tỉnh Đài Loan. Sau khi Đài Loan được Trung Quốc nhượng cho Nhật Bản khi kết thúc chiến tranh Thanh-Nhật (1894–1895) ông trở thành tổng thống Đài Loan Dân chủ quốc, một quốc gia độc lập tồn tại ngắn ngủi.
 
 




William Mesny (1842-1919)
 
William Mesny là một nhà thám hiểm và nhà văn sinh ra trên đảo Jersey nhưng đã dành phần lớn thời thơ ấu của mình ở Alderney, ngôi nhà của gia đình Mesnys. Ông là con cả trong ba người con của William Mesny và Mary Rachel Nicolle.

Ông đã sống 59 năm ở Trung Quốc. Ông trở thành Thiếu tướng trong quân đội Hoàng gia vào năm 1873 khi mới 30 tuổi, nhâhnj thấy rằng sự phục vụ của ông rất được người Trung Quốc coi trọng. Ông cũng được phong Ba Đồ Lỗ , tương đương với Bắc Đẩu Bội tinh của quân đội Pháp. 
 
 
 
 
 
 
Trương Tích Loan (1843–1922) 
 
Trương Tích Loan là một vị tướng Trung Quốc cuối thời nhà Thanh. Sau Chiến tranh Trung-Nhật năm 1894-1895, ông giữ chức Văn phòng Tổng cục của Văn phòng Tiểu đoàn Hải Phòng ở tỉnh Trực Lệ, Quận trưởng tỉnh Hình Hoa của tỉnh Phúc Kiến, kiêm Tổng Văn phòng Tiểu đoàn Bắc Dương và Tổng Văn phòng Văn phòng Kiểm tra Cấp phát.

Năm Quang Tự thứ 27 (1901), ông nhậm chức ở tỉnh Fengtian và liên tiếp đảm nhiệm các chức vụ như Giám sát Sở Thuế Trung Giang và Đường Đông Giang, Tiểu đoàn trưởng Lục quân Trung Quốc, Tổng cục Tuần tra, Chỉ huy trưởng Toàn bộ Tiểu đoàn Cánh và Cục Phát triển Cảng An Đông.

Sau khi Trung Hoa Dân Quốc được thành lập vào năm 1912, Trương Tích Loan được bổ nhiệm làm tỉnh trưởng Trương Tích Loan vào tháng 3, và vào tháng 11, ông được chuyển sang làm thống đốc Liêu Ninh và trưởng phòng dân sự của Liêu Ninh. Ngày 24 tháng 6 năm 1915, ông được phong làm "Trấn An tướng quân" để kiểm soát việc quân sự của ba tỉnh miền Đông. Tháng 8 năm 1915, ông được thuyên chuyển làm tổng trấn Hồ Bắc, nhưng ông bị Vương Chiêu Viễn, một phái có thế lực trong tỉnh tẩy chay và ông ở lại chính quyền trung ương Bắc Dương, khi Viên Thế Khải xưng hoàng đế, ông được phong tặng hạng nhất vào tháng 12. Sau năm 1917, Trương Tích Loan rút lui khỏi giới quân sự và chính trị và sống ở Thiên Tân. Trương Tích Loan mất năm 1922 ở tuổi 80.
 
 




Khương Quế Đề (1844-1922)

Khương Quế Đề là một tướng lĩnh nhà Thanh phục vụ dưới quyền của Tống Khanh trong cuộc trấn áp các phiến quân Thái Bình Thiên Quốc và Niệp quân và sau đó là chống lại Đế quốc Nhật Bản.
 
 


 
 
Tô Nguyên Xuân (1844-1908)
 
Tô Nguyên Xuân, tướng quân Hồ Nam cuối thời nhà Thanh. Vào năm Đồng Trị thứ hai, Ông gia nhập quân đội Hồ Nam, Sau đó, ông dẫn quân đi đàn áp người Miêu ở Quý Châu và được phong làm đô đốc. Trong chiến tranh Trung-Pháp, hỗ trợ Phùng Tử Tài chống lại quân đội Pháp và giành thắng lợi trong trận Aỉ Nam Quan năm 1885.
 
 
 
 


Vương Ý Vinh (1845–1900)

Vương Ý Vinh, là người đứng đầu Quốc tử giam nhà Thanh, được biết đến nhiều nhất là người đầu tiên công nhận rằng các ký hiệu Giáp cốt văn là một dạng chữ viết ban đầu của Trung Quốc. Công việc nghiên cứu Giáp cốt văn đã bị cắt ngang khi ông nhận lệnh làm một chỉ huy địa phương trong Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn. Khi lực lượng Bát quốc Liên quân chiếm đóng Bắc Kinh vào tháng 8 năm 1900, Vương Ý Vinh tự sát cùng với vợ và con dâu. 
 
 




Trương Bội Luân (1848–1903)

Trương Bội Luân là một quan chức chính phủ Trung Quốc cuối triều đại nhà Thanh, người từng là chỉ huy hải quân trong Chiến tranh Pháp-Thanh (tháng 8 năm 1884 – tháng 4 năm 1885).Không lâu trước khi Chiến tranh Pháp-Thanh bùng nổ, Trương Bội Luân được bổ nhiệm làm ủy viên triều đình, chịu trách nhiệm phòng thủ tỉnh Phúc Kiến. Hạm đội Phúc Kiến của ông đã bị đánh bại và gần như bị tiêu diệt bởi Hải đội Viễn Đông của Pháp, dưới sự chỉ huy của Đô đốc Amédée Courbet, trong trận Phúc Châu (23 tháng 8 năm 1884).

Trương Bội Luân đã không có nỗ lực nghiêm túc trong việc điều phối sự kháng cự của hạm đội Phúc Kiến, và bị Thái hậu Từ Hi giáng chức vào ngày 19 tháng 9 năm 1884 và được thay thế làm ủy viên quốc phòng Phúc Kiến bởi tướng kỳ cựu Tả Tông Đường. Sau đó anh bị đày đi lính ở Trương Gia Khẩu, một thị trấn nông thôn ở Đông Bắc Trung Quốc.
 
 


 
 
Đặng Thế Xương (1849-1894)
 
Đặng Thế Xương, là một sĩ quan quân đội cuối triều đại nhà Thanh. Ông được biết đến nhiều nhất khi phục vụ trong Hạm đội Bắc Dương trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất với tư cách là thuyền trưởng của tàu tuần dương Trí Viễn. Ông tham gia Trận chiến sông Áp Lục vào ngày 17 tháng 9 năm 1894 chống lại Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Sau khi Trí Viễn bị chìm trong trận chiến, anh ta đã từ chối cứu hộ và cuối cùng đã ở lại cùng chìm với con tàu.





Lưu Bộ Thiềm (1852–1895)

Lưu Bộ Thiềm là một sĩ quan hải quân của Hạm đội Bắc Dương, đơn vị hải quân nổi bật nhất của Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh. Ông được nhớ đến nhiều nhất với những hành động của mình với tư cách là chỉ huy hạm đội Định Viễn, trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất. Sau khi chết và con tàu bị phá hủy vào cuối chiến tranh, ông được tôn vinh thành anh hùng dân tộc ở Trung Quốc hiện đại. Khi qua đời, Liu là chỉ huy hạm đội, với cấp bậc Quyền Đô đốc và Đô đốc dự bị của Hạm đội.
 
 




Trương Huân (1854-1923)

Trương Huân, tự Thiếu Hiên, hiệu Tùng Thọ Lão nhân, là một tướng lĩnh bảo hoàng, trung thành với nhà Thanh trong thời kỳ triều đại này sụp đổ sau Cách mạng Tân Hợi. Năm 1917, ông từng có những nỗ lực khôi phục ngôi vị cho Phổ Nghi, vị hoàng đế cuối cùng của nhà Thanh vốn đã thoái vị năm 1912, nhưng chỉ được 12 ngày trước khi bị quân phiệt Đoàn Kỳ Thụy đánh đuổi khỏi Bắc Kinh. 
 
 
 



Lục Vinh Đình (1856-1927)

Lục Vinh Đình sinh tại Vũ Minh, Quảng Tây, Trung Hoa. Vốn xuất thân thổ phỉ, Lục trở thành tướng nhà Thanh tại Quảng Tây và trấn áp Khởi nghĩa Trấn Nam Quan (nay là Hữu Nghị Quan) trên biên giới Việt-Trung tại Bằng Tường, Quảng Tây do Tôn Dật Tiên và Hoàng Hưng lãnh đạo. 
 
 




Viên Thế Khải (1859-1916) 
 
Viên Thế Khải là một quân nhân và quan chức chính phủ Trung Quốc, người lên nắm quyền vào cuối triều đại nhà Thanh, trở thành Hoàng đế của Đế quốc Trung Quốc (1915–1916) . Ông đã cố gắng cứu vương triều bằng một số dự án hiện đại hóa bao gồm cải cách quan liêu, tài khóa, tư pháp, giáo dục và các cải cách khác, mặc dù đóng một vai trò quan trọng trong sự thất bại của Bách nhật duy tân. Ông đã thành lập quân đội hiện đại đầu tiên và một chính quyền cấp tỉnh hiệu quả hơn ở miền Bắc Trung Quốc vào những năm cuối của triều đại nhà Thanh trước khi Hoàng đế Phổ Nghi, vị vua cuối cùng của triều đại nhà Thanh, thoái vị vào năm 1912. Thông qua đàm phán, ông trở thành tổng thống Trung Hoa Dân Quốc năm 1912. Quân đội và sự kiểm soát quan liêu này là nền tảng của sự cai trị chuyên quyền của ông với tư cách là Tổng thống chính thức đầu tiên của Trung Hoa Dân Quốc. Ông đã thất bại trong một nỗ lực nhằm khôi phục chế độ quân chủ cha truyền con nối ở Trung Quốc, với bản thân là Hoàng đế của Hồng Hiến Đế chế. Cái chết của ông ngay sau khi thoái vị đã phân hóa hệ thống chính trị Trung Quốc và sự chấm dứt của chính quyền Bắc Dương là cơ quan trung ương của Trung Quốc.
 
 
 
 
 
 
Âm Xương (1859-1928)
 
Âm Xương là một quan chức quân đội, đại sứ tại Đức, và nhà cải cách giáo dục trong triều đại nhà Thanh và Trung Hoa Dân Quốc. Ông được bổ nhiệm làm Binh bộ Thượng thư (tương đương Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay) đầu tiên của quốc gia vào cuối triều đại nhà Thanh. Sau đó, ông cũng trở thành Tham mưu trưởng quân sự trong Chính phủ Bắc Dương. Anh là người dân tộc Mãn Châu, và gia đình anh thuộc Chính Bạch kỳ trong Bát Kỳ Mãn Châu.
 
 




Lưu Quan Hùng (1861-1927)

Lưu Quan Hùng là một Đô đốc Trung Quốc từ cuối triều đại nhà Thanh và thời kỳ đầu của Trung Hoa Dân Quốc, là Bộ trưởng Hải quân Trung Quốc, từ năm 1912–1916 và 1917-1919. Khi còn trẻ, ông nhập học tại Trường Cao đẳng Hải quân Phúc Châu và được gửi ra nước ngoài tới Anh. Ông được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Hải quân và Tổng tư lệnh khi thành lập Trung Hoa Dân Quốc. Ông cũng là Bộ trưởng Bộ Giáo dục (1913) và Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (1912). Trong thời kỳ cai trị của Viên Thế Khải với tư cách là Hoàng đế năm 1915, ông được phong là Công tước. Lưu quay sang Đoàn Kỳ Thụy ngay sau khi Viên Thế Khải qua đời, nhưng hạm đội Trung Quốc trở nên rạn nứt và chia rẽ do Đoàn Kỳ Thụy từ chối hiệu lực Hiến pháp bị bãi bỏ.
 
 




Giang Triều Tông (1861-1943) 
 
Giang Triều Tông là một vị tướng trong thời kỳ cuối nhà Thanh và là Thủ tướng quyền lực của Trung Hoa Dân Quốc năm 1917.
 
 
 
 


Trình Bích Quang (1861-1918)
 
Trình Bích Quang là một Đô đốc Trung Quốc từ cuối triều đại nhà Thanh và Trung Hoa Dân Quốc. Ông phục vụ trong Hạm đội Bắc Dương và Hải quân Trung Hoa Dân Quốc. Khi Đoàn Kỳ Thụy từ chối phê chuẩn Hiến pháp, ông cùng Đô đốc Lâm Bảo Dịch đã chèo thuyền xuống phía nam để tham gia với 'chính phủ Lập hiến' của Tôn Trung Sơn.
 
 




Vương Chiêm Nguyên (1861-1934) 
 
Vương Chiêm Nguyên là một tướng lĩnh cuối thời nhà Thanh và Thời kỳ quân phiệt của Cộng hòa của Trung Quốc, có cơ sở quyền lực ở tỉnh Hồ Bắc.

Vào tháng 10 năm 1911, trong cuộc Cách mạng Tân Hợi, ông được phong quân hàm đại tá và được giao cho Đội quân số 1, chuyên chiến đấu chống lại những người cách mạng trong cuộc Khởi nghĩa Vũ Xương và chỉ huy Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 2 của quân Bắc Dương. Ông là một trong những sĩ quan được phong tước hiệu Ba Đồ Lỗ, có nghĩa là "chiến binh dũng cảm" trong tiếng Mãn Châu, ngay sau khi quân Thanh chiếm được Hán Khẩu. Vào ngày 28 tháng 11, Đại tá Vương Chiêm Nguyên được bổ nhiệm làm Tư lệnh Sư đoàn 2.
 
 


 
 
Lục Kiến Chương (1862-1918) 
 
Lục Kiến Chương là một vị tướng của cuối triều đại nhà Thanh và đầu thời kỳ Cộng hòa của Trung Quốc. Ông nhập ngũ vào Quân đội Hoài Lâm năm 1881, trước khi gia nhập Tân quân năm 1895. Ông vào học tại Học viện quân sự Thiên Tân năm 1885, trở thành giảng viên năm 1887. Năm 1905, ông được bổ nhiệm phụ trách các đơn vị Tân binh từ các tỉnh Sơn Đông và Quảng Đông. Năm 1911, ông được cử đi đàn áp cuộc Khởi nghĩa Vũ Xương, nhưng sau đó ông đã ủng hộ các nhà cách mạng nhờ ảnh hưởng của người họ hàng Phùng Ngọc Tường. Năm 1912, ông tham gia thành lập chính phủ Bắc Dương của Trung Hoa Dân Quốc. Tháng 6 năm 1914, ông được cử đến tỉnh Thiểm Tây để trấn áp cuộc nổi dậy Bái Lăng. Từ tháng 12 năm 1915 đến năm 1916, ông chiến đấu trong Chiến tranh hộ quốc để bảo vệ Đế quốc Trung Hoa, nhưng từ chối ủng hộ việc Trương Huân khôi phục triều đại nhà Thanh vào tháng 7 năm 1917.






Long Cẩn Quang
 
Long Cẩn Quang (1863 - 1917) là một vị tướng vào cuối thời nhà Thanh và đầu thời kỳ Cộng hòa của Trung Quốc. Ông là anh trai của tướng Long Tế Quang. Cả hai anh em đều ủng hộ việc Viên Thế Khải khôi phục chế độ quân chủ.
 
 




Johann Wilhelm Normann Munthe
 
Johann Wilhelm Normann Munthe (1864-1935) là một sĩ quan quân đội và nhà sưu tập nghệ thuật người Na Uy.

Munthe sinh ra ở Bergen, Na Uy. Ông được đào tạo quân sự tại Trường Thiếu sinh quân Kỵ binh (Kavaleriets underoffiserskole) ở Trondheim. Ông di cư đến Trung Quốc vào năm 1886 và lần đầu tiên bắt đầu làm việc với Cục Hải quan Hàng hải Trung Quốc. Ông nhập ngũ vào Quân đội Trung Quốc trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất (1894-1895). Munthe đã thông thạo tiếng Quan Thoại và tiếp tục làm huấn luyện viên kỵ binh dưới quyền Tướng Viên Thế Khải. Sự kết hợp của Munthe với Viên Thế Khải tỏ ra có lợi. Ông đã thăng cấp lên Trung tướng và Trưởng khu hành chính Bắc Kinh. Ông cũng từng là cố vấn cho Bộ Chiến tranh; người nước ngoài đầu tiên và duy nhất đạt được vị trí như vậy.
 





Đoàn Kỳ Thụy (1865-1936)

Đoàn Kỳ Thụy là một quân phiệt và chính khách quan trọng của Trung Quốc thời Thanh mạt và đầu Trung Hoa Dân Quốc. Ông từng đảm nhiệm vị trí chỉ huy trưởng quân đội Bắc Dương, 3 lần giữ chức vụ Thủ tướng Trung Hoa Dân Quốc (Gọi là Quốc vụ Tổng lý thời điểm đó), và là Đại Tổng thống chấp chính lâm thời của Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ở Bắc Kinh trong giai đoạn từ năm 1924 – 1926.






Long Tế Quang

Long Tế Quang (1867–1925) là một tướng lĩnh người dân tộc Hà Nì vào cuối thời nhà Thanh và đầu thời kỳ Cộng hòa của Trung Quốc.

Anh trai của Long Tế Quang là Long Cẩn Quangcũng là một vị tướng. Long Tế Quang bắt đầu cuộc đời binh nghiệp của mình để trấn áp cuộc nổi dậy chống nhà Thanh của những người cách mạng Cộng hòa ở Trung Quốc. Sau khi nhà Thanh sụp đổ, ông ủng hộ Viên Thế Khải chống lại Tôn Trung Sơn. Sau khi Yuan tạo ra Đế quốc Trung Quốc, Long Tế Quang đã chiến đấu chống lại các lãnh chúa Quảng Tây là Lục Vinh Đình và Lý Liệt Quân, những người phản đối việc khôi phục chế độ quân chủ của Viên Thế Khải. Là một đối thủ của Phong trào Bảo vệ Hiến pháp của Tôn Trung Sơn, Long Tế Quang trốn khỏi miền nam Trung Quốc đến Bắc Kinh, nơi ông ủng hộ Đoàn Kỳ Thụy và bè phái An Huy (Quân phiệt Hoàn hệ) cho đến khi họ thất bại trong cuộc chiến giữa phe Hoàn hệ và Trực hệ. 
 
 




Trần Bính Côn (1868-1927) 
 
Trần Bính Côn là một vị tướng vào cuối thời nhà Thanh, ông là chỉ huy của Sư đoàn 1 của Tỉnh đội Quảng Tây. Là một người ủng hộ Hội Cựu Quảng Tây, ông trở thành thống đốc quân sự Quảng Tây từ năm 1916-17, thống đốc dân sự Quảng Tây năm 1916 và thống đốc quân sự Quảng Đông năm 1917. Cùng với Lục Vinh Đình, ông phản đối chính phủ miền nam do Tôn Trung Sơn lãnh đạo. Năm 1920, Trần Quýnh Minh, hành động cho Tôn Trung Sơn, đã đẩy họ ra khỏi Quảng Đông trong Chiến tranh Quảng Đông-Quảng Tây lần thứ nhất. Năm 1921, ông xâm lược Quảng Tây, châm ngòi cho Chiến tranh Quảng Đông-Quảng Tây lần thứ hai. 
 
 
 
 


Mã Kì (1869-1931)

Mã K là một lãnh chúa Hồi giáo Trung Quốc ở Trung Quốc đầu thế kỷ 20. Trong Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, Mã Kì cùng với cha mình là Mã Hải Yến trong Cam quân của tướng Đổng Phúc Tường chống lại Bát quốc Liên quân đang xâm lược ở Bắc Kinh.

Trong Cách mạng Tân Hợi, Mã Kỳ đã dễ dàng đánh bại những người cách mạng Ca Lão Hội ở Ninh Hạ, khiến họ phải chật vật, nhưng khi Hoàng đế nhà Thanh thoái vị, Mã Kỳ tuyên bố ủng hộ Trung Hoa Dân Quốc. Mã Kỳ nhanh chóng sử dụng sức mạnh ngoại giao và quân sự của mình để khiến các quý tộc Tây Tạng và Mông Cổ công nhận chính phủ Trung Hoa Dân Quốc là lãnh chúa của họ, và gửi một thông điệp tới Tổng thống Viên Thế Khải tái khẳng định rằng Thanh Hải đã an toàn trong Cộng hòa.

Mã Kỳ thành lập Quân đội Ninh Hải ở Thanh Hải năm 1915. Ông ta chiếm tu viện Labrang vào năm 1917, lần đầu tiên những người không phải người Tây Tạng chiếm giữ nó.

Sau khi thành lập nước Cộng hòa, ông là thống đốc của Thanh Hải từ năm 1915–28 và là chủ tịch đầu tiên của chính phủ Thanh Hải từ năm 1929–31. Sau khi Tưởng Giới Thạch giành được quyền kiểm soát trên toàn quốc, ông trở thành chỉ huy lữ đoàn và sau đó được thăng chức tư lệnh Sư đoàn 26 của Quân đội Cách mạng Quốc gia ở khu vực Tây Bắc. Các chức vụ dân sự của ông còn có giám đốc Sở Xây dựng Cam Túc.
 
 




Đoàn Chi Qúy
 
Đoàn Chi Qúy (1869-1925) là một tướng lĩnh nhà Thanh. Sinh ra ở Hợp Phì, An Huy, ông đã đạt được chức vụ thống đốc Hắc Long Giang vào cuối triều đại nhà Thanh và từ năm 1912-13 là thống đốc của Sát Cáp Nhĩ và thống đốc quân sự của Hồ Bắc từ năm 1914-15, cũng như thống đốc quân sự và dân sự của Liêu Ninh năm 1915- 16.

Là người ủng hộ trung thành của Viên Thế Khải, ông được đặt biệt danh là "Hoàng tử nuôi", và khi Đoàn Kỳ Thụy, một người cùng quê ở Hợp Phì, nắm chính quyền Bắc Kinh vào năm 1917, Đoàn Chi Qúy được phong làm Bộ trưởng Bộ Chiến tranh; tuy nhiên khi Đoàn Kỳ Thụy bị đánh bại năm 1920, Duan Zhigui trốn đến sứ quán Nhật Bản. Ông được chuyển đến sống ở Thiên Tân năm 1922 cho đến khi qua đời ở đó vào năm 1925.
 
 




Lưu Hiển Thế

Lưu Hiển Thế (1870-1927) là một tướng lĩnh của triều đại Hậu Thanh và đầu thời kỳ Cộng hòa. Ban đầu ông ủng hộ Viên Thế Khải khi tuyên bố Đế quốc Trung Hoa của ông ta, Lưu Hiển Thế tham gia cùng Thái Ngạc và Đường Kế Nghiêu một tháng sau khi bắt đầu Chiến tranh hộ quốcđể nổi dậy chống lại Viên Thế Khải.






Lý Chuẩn (1871- 1936)

Lý Chuẩn là một đô đốc hải quân của Nhà Thanh dưới quyền của Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn, là người đã thực hiện chuyến đổ bộ ngắn ngủi lên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1909.

Tháng 6 năm 1909, tỉnh Quảng Đông cử một đội khảo sát tới Hoàng Sa do Lý Chuẩn làm trưởng đoàn. Theo lệnh của Tổng đốc Lưỡng Quảng Trương Nhân Tuấn, Đô đốc Lý Chuẩn dẫn các chiếc pháo thuyền Phục Ba, Sâm Hàng đi "thị sát" vùng biển quần đảo Tây Sa (Hoàng Sa), ngày 6 tháng 6 thì đổ bộ lên đảo Phú Lâm, treo cờ, bắn súng, thăm một vài đảo khác rồi về thẳng Quảng Châu.

Các tài liệu, phương tiện Trung Quốc gọi chuyến đi này là chuyến "thị sát Tây Sa" và đến năm 1932, Trung Hoa Dân Quốc coi cuộc đổ bộ của Đô đốc Lý Chuẩn lên một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa như là một mốc thời gian để xác lập chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa.

Chuyến đi của Lý Chuẩn được các phương tiện, sách vở Trung Quốc gọi là "thị sát Tây Sa" và dùng làm một trong những căn cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền của Quần đảo Hoàng Sa cũng như trong tranh chấp về Biển Đông. 
 
 




Triệu Thích (1871–1933)

Triệu Thích là một tướng lĩnh Trung Quốc cuối thời nhà Thanh và đầu thời kỳ Cộng hòa của Trung Quốc.Sau khi Trung Hoa Dân Quốc thành lập, Triệu Thích trở thành cấp dưới của Viên Thế Khải. Năm 1920, ông là thống đốc quân sự của Hà Nam.






Mã Lân (1873-1945)

Mã Lân là thống đốc của Thanh Hải 1931-1938 và anh trai của Mã Kì. Là một người Hồi giáo, ông chủ yếu phục vụ các chức vụ của anh trai mình, là tướng của tỉnh Cam Túc đông nam, đồng thời là ủy viên hội đồng của chính quyền tỉnh Thanh Hải và quyền giám đốc Sở Xây dựng tỉnh Thanh Hải. Cha của ông là Mã Hải Yến.






Trịnh Sĩ Kỳ (1873-1935)
 
Trịnh Sĩ Kỳ là một tướng lãnh cuối thời nhà Thanh, thống đốc quân sự của Sơn Đông (1923–25) và An Huy (1925).








Đỗ Tích Khuê (1875-1933)

Đỗ Tích Khuê, tự Thận Chưng, Thận Thần, hiệu Thạch Chung là một sĩ quan Hải quân cuối thời nhà Thanh và thời kỳ quân phiệt ở Trung Quốc.

Đỗ Tích Khuê tốt nghiệp khóa lái tàu thứ hai ở Học viện Hải quân Giang Nam, sau đó ông được sang Anh thực tập. Năm 1904, Đỗ trở thành thuyền trưởng của tàu "Hải Thiên" (海天) - chiến hạm lớn nhất của Trung Quốc bấy giờ.

Tháng 10 năm 1911, Khởi nghĩa Vũ Xương nổ ra, Đỗ Tích Khuê theo lệnh của Viên Thế Khải đưa chiến hạm "Giang Trinh" đến Hán Khẩu. Sau khi Viên Thế Khải trở thành Tổng thống Trung Hoa Dân quốc, Đỗ Tích Khuê gia nhập chính phủ Bắc Dương. Đến đầu năm 1916, khi Viên Thế Khải chính thức xưng đế, Đỗ Tích Khuê cùng Tư lệnh Hạm đội 1 Lâm Bảo Dịch và cựu Tư lệnh hải quân Lý Đỉnh Tân tuyên bố độc lập và tham gia chiến tranh hộ quốc chống lại Viên. Sau cái chết của Viên Thế Khải, Đỗ Tích Khuê trở lại chính quyền Bắc Dương, năm 1917 là chỉ huy Hạm đội 2. Thế chiến thứ I bùng nổ, chính phủ Bắc Dương tham gia cùng phe Hiệp ước, bản thân Đỗ Tích Khuê cũng làm rất tốt việc kiểm soát các tàu buôn của Đức, Áo-Hung trên sông Dương Tử.

Tháng 12 năm 1925, Đỗ Tích Khuê trở thành Bộ trưởng Hải quân. Tháng 6 năm 1926, nội các nhiếp chính của Nhan Huệ Khanh giải tán, Đỗ Tích Khuê trở thành quyền Tổng thống kiêm Thủ tướng và Bộ trưởng Hải quân. Cũng trong thời kì này, quân đội của Quốc dân Đảng Trung Quốc đạt được thắng lợi trong chiến tranh Bắc phạt (1926-1928), Đỗ Tích Khuê cho Hạm đội 1 và Hạm đội 2 được tự do đi lại và gia nhập vào Quốc dân Cách mệnh quân, đến tháng 3 năm 1927, Hải quân chính thức tuyên bố trở thành thành viên của Quốc dân Cách mệnh quân. 
 
 
 



 
Mã Phúc Tường (1876-1932)
 
Mã Phúc Tường là một nhà lãnh đạo quân sự và chính trị Trung Quốc từ thời nhà Thanh đến thời kỳ đầu của Trung Hoa Dân Quốc và minh họa sức mạnh của gia đình, vai trò của các đảng phái tôn giáo, và sự tương tác của Nội Á Trung Quốc và chính phủ quốc gia Trung Quốc. Ông là một lãnh chúa Hồi giáo nổi bật ở tây bắc Trung Quốc. Mã Phúc Tường ban đầu phục vụ dưới quyền Đổng Phúc Tường, giống như các lãnh chúa Hồi giáo Mã gia quân phiệt khác như Mã An Lương.
 
Ông được mệnh danh là thống đốc quân sự của Tây Ninh, và sau đó là Altay, vào thời nhà Thanh. Ông đã giữ một số lượng lớn các vị trí quân sự ở khu vực Tây Bắc sau khi thành lập nước cộng hòa. Ông là thống đốc của Thanh Hải năm 1912, Ninh Hạ từ năm 1912 đến năm 1920, và Tuy Viễn từ năm 1920 đến năm 1925. Sau khi chuyển sang làm chủ tịch (thống đốc) của chính phủ An Huy vào năm 1930. Ông được bầu làm thành viên của Ủy ban Chính phủ Quốc gia, và sau đó được bổ nhiệm làm thị trưởng Thanh Đảo, đô thị đặc biệt. Ông cũng là chủ tịch của Ủy ban Mông Cổ-Tây Tạng và là thành viên của Ban Chấp hành Trung ương của Quốc dân đảng. 
 





 
Tái Tuần (1885 - 1949)
 

Tái Tuần, là con trai thứ 6 của Thuần Hiền Thân vương Dịch Hoàn và là em trai của Thanh Đức Tông Quang Tự Đế.

Năm Quang Tự thứ 13 (1887), tháng giêng, ông được phong Bất nhập bát phân Phụ quốc công. Năm Tuyên Thống nguyên niên (1909), ông được giao làm "Hải quân Đại thần" bởi Khánh Thân vương Dịch Khuông. Sau đó ông được đưa sang châu Âu và Hoa Kỳ để nghiên cứu lực lượng hải quân của các cường quốc phương Tây.  
 
Năm Tuyên Thống thứ 3 (1911), sau khi quay về Trung Quốc, ông chính thức trở thành một vị tướng của hải quân nhà Thanh. Sau khi Cách mạng Tân Hợi lật đổ triều đại nhà Thanh, ông sống cả phần đời còn lại ở Bắc Kinh và Thiên Tân. Ông qua đời tại Thiên Tân năm 1949.







No comments

Theme images by rion819. Powered by Blogger.